Bạn đang xem: Nghiên cứu Lý luận văn hóa học Các bình diện của văn hóa Vũ Thị Phương Lê. Đặc trưng và chức năng định hướng của giá trị

Vũ Thị Phương Lê. Đặc trưng và chức năng định hướng của giá trị

Email In

 

VỀ ĐẶC TRƯNG VÀ CHỨC NĂNG ĐỊNH HƯỚNG CỦA GIÁ TRỊ

 

ThS. Vũ Thị Phương Lê

(Trường Đại học Vinh)

 Trong bài viết này, tác giả đã trình bày một số đặc trưng cơ bản của giá trị, như tính có ích, chủ quan và khách quan, tính hai mặt, tính lịch sử và tính nhận thức được...; đồng thời, phân tích chức năng định hướng của giá trị. Theo tác giả, giá trị không phải là yếu tố bất biến, nó thay đổi theo môi trường và hoạt động thực tiễn của con người. Những chuyển đổi lớn về mặt kinh tế, lịch sử và xã hội sẽ dẫn đến sự biến đổi giá trị và vai trò định hướng của nó.

Trong 2 thập niên vừa qua, trước những biến đổi to lớn của khoa học - công nghệ và văn hóa toàn cầu, giá trị đã trở thành vấn đề cơ bản, thời sự của thế giới và là mối quan tâm của nhiều quốc gia, dân tộc. Một số nghiên cứu cho rằng, trong đời sống xã hội từ xưa đến nay, hầu hết những vấn đề thời sự nhất, cấp bách nhất được đặt ra đối với con người, rốt cuộc, đều là những vấn đề thời sự và cấp bách về mặt giá trị. Con người là giá trị cao nhất trong các giá trị. Giá trị của giới tự nhiên, suy cho cùng, cũng là giá trị cho con người và của con người. Sự thay đổi của thế giới và sự xuất hiện các giá trị mới đang đòi hỏi phải có một hệ thống triết học về đời sống, một cách hiểu về cuộc sống và các mối quan hệ của con người khởi nguồn từ các giá trị truyền thống(1).

Có thể nói, tiếp cận triết học là phương hướng tối ưu để xác định khái niệm giá trị một cách khái quát nhất. ở đây, giá trị được tiếp cận từ hai phía: phía khách thể - bản thân sự vật với những phẩm chất khách quan của nó và phía chủ thể - sự đánh giá của con người. Từ trong bản chất, nó là sự thống nhất biện chứng giữa cái khách quan và cái chủ quan.

Đến nay, trong các từ điển trong và ngoài nước đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về giá trị. Từ điển Bách khoa toàn thư Xôviết định nghĩa: "Giá trị là sự khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc thế giới xung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn bộ xã hội nói chung. Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên, mà là bởi tính chất cuốn hút (lôi cuốn) của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng, tâm thế và mục đích"(2). Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, với tư cách một phạm trù triết học, giá trị dùng để "chỉ tính có ích, có ý nghĩa của những sự vật, hiện tượng tự nhiên hay xã hội có khả năng thỏa mãn nhu cầu, phục vụ lợi ích của con người. ở đây, các sự vật, hiện tượng được xem xét dưới góc độ đáng hay không đáng mong muốn, có ý nghĩa tích cực hay không đối với đời sống xã hội"(3).

Sự phân tích một cách đa dạng và phong phú về nội dung, bản chất và cấu trúc phạm trù giá trị của các nghiên cứu trong và ngoài nước chứng tỏ “giá trị” là một vấn đề rất phức tạp. Xung quanh khái niệm giá trị tuy còn có những ý kiến khác nhau, nhưng nhiều tác giả đều khẳng định rằng, giá trị được xác định là tất cả những gì đem lại sự tiến bộ, phát triển, tốt đẹp cho con người và xã hội. Hình thức biểu hiện của giá trị rất đa dạng, phụ thuộc vào tính đa dạng của các hoạt động và mối quan hệ của con người. Nhưng nó thống nhất ở tính hữu ích, nó là cái thật, cái đẹp, cái tốt, có tác dụng tích cực góp phần vào việc nhân đạo hoá đời sống con người. Trong ý nghĩa đó, những gì ngược lại có thể xem là phản giá trị. Giá trị được phát hiện thông qua sự trải nghiệm và đánh giá từ phía chủ thể (con người) với thế giới mà anh ta đang sống. Các hoạt động sống của con người, dù vô thức hay có ý thức, đều mang tính hướng đích, và trong một chừng mực nhất định, có thể xem: đối với con người, sống là thể hiện những giá trị.

Từ những phân tích trên đây, theo chúng tôi, giá trị là những cái cần, có ích, đáng quý, có ý nghĩa đối với xã hội, tập thể, cá nhân, phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, giữa chủ thể với chính mình được đánh giá và có thể thay đổi theo những điều kiện lịch sử - cụ thể.

Qua những định nghĩa nêu trên, chúng ta thấy giá trị có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, tính có ích, mặt tích cực trong ý nghĩa là một trong những đặc trưng nổi bật của giá trị. Xét trên bình diện chung, bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng có thể xem là có giá trị, miễn là nó được người ta cần đến như một nhu cầu hoặc thừa nhận có một vị trí nhất định trong đời sống của họ. Nhưng, nếu xem xét dưới góc độ nhân văn và tiến bộ thì giá trị thường gắn liền với cái tốt, cái hay, cái đẹp, cái đúng và có một vị trí nhất định trong đời sống, có khả năng định hướng cho hoạt động của con người. Theo đó, giá trị là cái được con người lựa chọn và đánh giá, có ý nghĩa tích cực đối với đời sống, được cá nhân đồng tình và xã hội chấp nhận.

Thứ hai, giá trị thường tồn tại trong mối quan hệ với nhu cầu và lợi ích của con người. Tuỳ vào việc con người có hay không có nhu cầu mà một sự vật, hiện tượng nào đó đối với con người là có hay không có giá trị(4). Sự vật, hiện tượng đó có giá trị vì nó thỏa mãn nhu cầu này hay nhu cầu khác của con người và thông qua đó, con người nhận ra ý nghĩa, sự cần thiết của nó trong cuộc sống của mình, nhất là khi nhu cầu ấy trở thành ước muốn (động cơ hoạt động) thì sự vật, hiện tượng đó trở thành mục đích, thúc đẩy hoạt động của con người. Tuy nhiên, nếu nhu cầu thường nảy sinh từ sự thiếu hụt, từ những đòi hỏi tất yếu mà con người cần thoả mãn để tồn tại và phát triển thì giá trị là những cái cần, có ích, đáp ứng nhu cầu và ước muốn của chủ thể. Nhu cầu thường mang tính cụ thể, còn giá trị thường mang tính trừu tượng. Mặt khác, trước đây, khi nói về giá trị, người ta thường lảng tránh đề cập đến lợi ích cá nhân, bởi nó bị đồng nhất một cách sai lầm với chủ nghĩa cá nhân. Ngày nay, quan niệm xã hội đã có nhiều thay đổi, nhiều người thừa nhận lợi ích là tiêu chuẩn khách quan, thậm chí lấy đó làm thước đo giá trị. Tuy nhiên, những lợi ích đó chỉ được coi là có giá trị khi nó phù hợp với nguyên tắc và chuẩn mực xã hội.

Thứ ba, giá trị có tính chủ quan và khách quan, bởi nó phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Tính khách quan của giá trị thể hiện ở chỗ, sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của một giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của chủ thể nhận thức, mà phụ thuộc vào sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của một nhu cầu nào đó của con người, không phải do ý thức mà do yêu cầu của thực tiễn trong đó con người sống và hoạt động. Tính khách quan của giá trị do thực tiễn qui định, mà thực tiễn - như V.I.Lênin nói, là "kẻ xác định một cách thực tế sự liên hệ giữa sự vật với những điều cần thiết đối với con người"(5). Do đó, thực tiễn cũng là tiêu chuẩn khách quan của giá trị.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, sự vật, hiện tượng mang giá trị hay không lại tùy thuộc vào tính có ích của nó trong quan niệm của chủ thể. Do vậy, tính  chủ quan của giá trị được thể hiện thông qua sự đánh giá của con người. Chính vì thông qua lăng kính chủ quan của con người và phụ thuộc vào những tiêu chí do con người đặt ra mà giá trị có tính chủ quan. Con người trong quá trình sống không chỉ so sánh, chiêm nghiệm, mà còn đánh giá cái gì là quan trọng hay không quan trọng đối với mình. Từ đó, sự vật, hiện tượng ấy sẽ được con người gán cho là có giá trị hay không. Điều đó cũng lý giải vì sao cùng một sự vật, hiện tượng nhưng với người này thì có giá trị, còn với người khác thì ngược lại. Ngay cả với cùng một chủ thể, ở các thời điểm khác nhau cũng có sự đánh giá không giống nhau về giá trị.

Vì giá trị mang tính chủ quan, nên nó cũng mang tính tương đối(6). Trong các nền văn hóa khác nhau, các quốc gia dân tộc có những điều kiện sống khác nhau; do vậy, quan niệm của họ về giá trị, thang bậc giá trị cũng khác nhau. Giá trị phụ thuộc vào không gian, thời gian và chủ thể đánh giá. Tính tương đối của khái niệm "giá trị" đòi hỏi khi xem xét một sự vật, hiện tượng phải luôn đặt nó trong bối cảnh không gian - thời gian - chủ thể cụ thể. Đồng thời, tính tương đối của giá trị cho phép ta phân biệt các giá trị theo thời gian thành giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Trong các giá trị nhất thời lại có thể phân biệt giá trị đã lỗi thời, giá trị hiện hành và giá trị đang hình thành. Sự phân biệt các loại giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan - phủ nhận sạch trơn hoặc tuyệt đối hóa, đề cao quá mức.

Theo tác giả Hồ Sĩ Quý, bất cứ hiện tượng nào cũng có thể xem xét về mặt giá trị, hay buộc phải nằm trong những thang bậc nhất định của các bảng giá trị. Thậm chí, vô giá trị cũng là một thứ giá trị - một thứ giá trị nằm ở những thang bậc thấp nhất của sự đánh giá. Thế giới các giá trị, về thực chất, chính là toàn bộ thế giới bên trong và bên ngoài con người được hiện hình trong tư duy và tình cảm của con người. Do tồn tại với tư cách khuôn thước của sự đánh giá, như một biểu hiện đặc trưng cho quan hệ chủ thể - khách thể trong đời sống xã hội, nên giá trị luôn là người bạn đồng hành của đời sống con người(7).

Giá trị còn có tính hai mặt: tích cực và tiêu cực. Các giá trị mang tính nhân văn không phải lúc nào cũng là giá trị tích cực trong mọi hoàn cảnh. Tính hai mặt này phụ thuộc và bị chế định bởi hoàn cảnh lịch sử - cụ thể. Chẳng hạn, trong các giá trị truyền thống của con người Việt Nam, "coi trọng tình nghĩa" là một giá trị có tính hàng đầu trong bảng giá trị ứng xử. Người Việt Nam coi trọng tình nghĩa đến mức duy tình, do đó mọi ứng xử duy lý triệt để, thái quá đều khó có thể được chấp nhận. Ngay cả khi cơ chế thị trường đã bén rễ trong xã hội Việt Nam, duy tình vẫn là phương thức ứng xử giữ nguyên sức mạnh truyền thống của nó, chi phối cả cách ứng xử trong sản xuất kinh doanh với đối tác nước ngoài. Đó là chưa kể đến việc giá trị có thể bị thay đổi bản chất khi nó được chuyển phạm vi ứng dụng giữa các chủ thể. Tôn trọng tình nghĩa có thể là tích cực, tốt đẹp đối với cộng đồng này nhưng cũng có thể là phản giá trị với cộng đồng kia(8).

Học thuyết Mác - Lênin nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch sử và tính nhận thức được của giá trị, các chuẩn mực của đời sống con người. Mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của quần chúng. Có những giá trị, khi đã trở thành tài sản văn hoá tinh thần chung của nhân loại và của cộng đồng, mang ý nghĩa trường tồn. Nhưng thang bậc giá trị trong xã hội nói chung luôn vận động, biến đổi. Lịch sử loài người cũng chính là lịch sử của sự không ngừng tìm kiếm, nhận thức các chân giá trị; là lịch sử của quá trình tích luỹ, kế thừa, chọn lọc và phát hiện ra các giá trị mới phù hợp với sự phát triển của xã hội loài người.

Các giá trị thường được sắp xếp theo những quan hệ nhất định và có những vị trí, thứ bậc khác nhau, được con người sử dụng theo những chuẩn khác nhau. Một tổ hợp giá trị khác nhau được sắp xếp theo những nguyên tắc nhất định thành một tập hợp mang tính toàn vẹn, hệ thống, thực hiện các chức năng đặc thù tạo nên hệ giá trị. Cuộc sống của con người luôn bị ràng buộc và chịu tác động của nhiều giá trị. Trong hệ giá trị mà mỗi người hướng tới, có giá trị mang tính truyền thống, có giá trị hiện đại, có giá trị mang tính nhân loại, có giá trị mang tính dân tộc, tính giai cấp... Giá trị có thể được sắp xếp theo nhiều hệ thống khác nhau. Hệ giá trị không phải là yếu tố bất biến, cố hữu, mà nó mang tính lịch sử, chịu sự chế định bởi lịch sử.

Trong một hệ giá trị, các giá trị thường được sắp xếp theo một trật tự ưu tiên nhất định mà trật tự này được thẩm định, đánh giá trong quá trình lao động và tham gia các hoạt động thực tiễn khác của con người. Sự đánh giá này mang ý nghĩa khách quan, bởi đó không phải là sự đánh giá của riêng một cá nhân nào mà là của lao động xã hội, của cộng đồng, của thực tiễn. Những giá trị được thừa nhận, đánh giá cao và thể hiện tính có ích trong cải biến thực tiễn là những giá trị mang ý nghĩa chuẩn mực. Nói cách khác, trong hệ thống giá trị được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên nhất định, có những giá trị giữ vị trí là giá trị cốt lõi, chuẩn mực chung cho nhiều người, chiếm vị trí cao hoặc then chốt, được gọi là giá trị chuẩn. Việc xây dựng các giá trị theo các chuẩn mực nhất định về kinh tế, chính trị, đạo đức, xã hội, thẩm mỹ tạo ra các chuẩn giá trị. Từ thời cổ đại, loài người đã có khát vọng vươn tới Chân, Thiện, Mỹ. Ngày nay, đó vẫn là những giá trị chuẩn của rất nhiều nền văn hoá trên thế giới.

Những giá trị cá biệt một khi đã vượt khỏi phạm vi nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân, trở thành cái có tác dụng, có ý nghĩa đối với cả cộng đồng xã hội, được xã hội hoá một cách rộng rãi thì trở thành "giá trị xã hội". Một giá trị đã trở thành giá trị xã hội thì đồng thời nó cũng giữ vai trò chuẩn mực và mang ý nghĩa như một chuẩn mực, có tác dụng định hướng, điều tiết, thẩm định đối với mọi hành vi của con người.

Mỗi quốc gia dân tộc, trong mỗi giai đoạn lịch sử đều có những giá trị xã hội định hướng sự phát triển của xã hội theo những mục tiêu nhất định. Những giá trị đó được thể chế hóa thành pháp luật, thành các quy phạm đạo đức. ở một mức độ nào đó, chuẩn mực tạo nên những giá trị đạo đức, thẩm mỹ của cá nhân và cộng đồng. Mọi chuẩn mực xã hội đều có ý nghĩa giá trị và một giá trị khi đã trở thành chuẩn mực xã hội đều mang ý nghĩa chuẩn mực. Trong những trường hợp đó, ranh giới giữa giá trị và chuẩn mực giá trị chỉ mang ý nghĩa tương đối. Chủ nghĩa Mác coi giá trị là hiện tượng xã hội đặc thù, là một số biểu hiện của các quan hệ xã hội và của mặt tiêu chuẩn đánh giá trong ý thức xã hội. Mặt tiêu chuẩn đánh giá của ý thức xã hội phản ánh tính chất thế giới quan của ý thức đó.

Những phân tích trên đây cho thấy, giá trị cũng như giá trị xã hội là cái có thể nhận thức và định hướng được. Giá trị xã hội càng nổi bật, bền vững thì tính chuẩn mực, vai trò định hướng của nó càng lớn, càng phổ biến, càng bền vững. Vì giá trị cũng như chuẩn giá trị xã hội đều thể hiện tác dụng và ý nghĩa của sự vật, hiện tượng đối với cuộc sống con người; do đó, nó cũng có thể tác động, điều chỉnh hành vi, hoạt động và nhận thức của con người. Người ta có thể dễ dàng xác định giá trị cao hay thấp, nhiều hay ít của một vật phẩm, một hiện tượng tinh thần, một nhân cách, một lối sống theo từng cách nhận thức của mình. Do đó, nếu có cơ chế tác động phù hợp thì chuẩn mực giá trị cũng mang nghĩa như là lý tưởng – đều hướng con người tới sự hoàn thiện. Và khi đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của đông đảo quần chúng nhân dân thì nó có thể trở thành một động lực làm thay đổi cả đời sống. Chuẩn mực giá trị là yếu tố góp phần tạo dựng xã hội có một diện mạo văn hóa, tinh thần riêng biệt, thống nhất, ổn định, không chỉ là cơ sở để thực hiện các mối liên hệ xã hội mà còn là cơ sở cho sự hình thành và phát triển nhân cách. Đồng thời, tính chuẩn mực của giá trị cũng là kết quả của sự phát triển về trình độ nhận thức và mức độ trưởng thành của con người về mặt thế giới quan và mức độ hoàn thiện nhân cách.    

Chủ nghĩa duy vật lịch sử và thực tiễn đã chứng minh rằng trong các xã hội khác nhau, điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau thì quan niệm về giá trị cũng khác nhau. Do đó, mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng xã hội thường có những cách quan niệm giá trị không giống nhau. Bởi vì, như trên đã nói, giá trị thường được xác định bởi mức độ phù hợp của chúng với yêu cầu của sự tiến bộ xã hội. Song, lợi ích và yêu cầu của sự tiến bộ xã hội lại có tính lịch sử. Chính vì vậy, giá trị cũng có tính lịch sử. Ph.Ăngghen đã từng khẳng định: "Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau"(9). Bởi lẽ, khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi, khi kiến trúc thượng tầng thay đổi thì hệ giá trị cũng thay đổi theo. Mặt khác, cho dù trong cùng một chế độ chính trị - xã hội, nhưng cơ chế tác động khác nhau thì cũng có thể tạo ra những biến đổi khác nhau về hệ giá trị. Chẳng hạn, cùng là chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, mấy chục năm qua, chuẩn giá trị thay đổi liên tục. Trong thời kỳ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, "độc lập dân tộc" được thừa nhận là giá trị cao nhất. Nhưng khi hoà bình lập lại, con người trở về nhịp sống đời thường, thì những giá trị hoà bình đã xuất hiện và thay thế. Trong đó, những giá trị kinh tế ngày càng tăng và giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. (9)

Do vậy, ngày nay, trước sự xuất hiện một giá trị hay một hệ giá trị mới nào đó, chúng ta không chỉ dừng lại ở miêu tả, liệt kê, lý giải ảnh hưởng của nó, mà còn cần phải đi sâu tìm hiểu nguồn gốc kinh tế - xã hội đã sản sinh ra các giá trị đó. Mặt khác, việc quan sát sự biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội cũng có thể giúp chúng ta dự báo được xu thế vận động, biến đổi, phát triển của giá trị. Từ đó, giúp chúng ta tìm ra phương thức tác động, định hướng giá trị phù hợp để làm cho các giá trị mới tiến bộ càng được lan tỏa và ngược lại, những giá trị mới tiêu cực càng bị thu hẹp phạm vi ảnh hưởng.

Song, điều đó không có nghĩa là khi chế độ kinh tế - xã hội thay đổi thì mọi giá trị đều bị lật nhào, mọi quan niệm đạo đức đều lập tức thay đổi. Những giá trị mang tính nhân bản, phù hợp với cái gốc của tình cảm con người, dù công khai hay ngấm ngầm, đều được lưu truyền trong đời sống tinh thần của dân chúng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chân - Thiện - Mỹ là những giá trị như vậy. Cùng với sự vận động, biến đổi của con người và xã hội, tất yếu có những chuẩn mực giá trị tiếp tục được giữ gìn và phát triển, có những chuẩn mực cũ trở nên lỗi thời và bị lãng quên; có những chuẩn mực mới ra đời trở thành tiêu chuẩn, cơ sở cho sự phát hiện, tiếp nhận và sáng tạo những giá trị xã hội mới. Chính vì mang tính xã hội khách quan mà giá trị, một khi được xác lập, có chức năng định hướng, đánh giá và điều chỉnh hành vi của con người.

Trong từng giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia đều có những thang bậc giá trị để đánh giá và định hướng sự phát triển của con người. Nếu con người phát triển phù hợp theo định hướng giá trị xã hội thì ảnh hưởng tích cực của họ tới xã hội càng nhiều, càng lớn. Các giá trị chủ đạo thường là mục tiêu cho những hoạt động thực tiễn của con người. Những tiêu chuẩn về giá trị ở mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử đều nhằm mục đích hướng cá nhân và cộng đồng theo mục tiêu phát triển chung của xã hội. Với ý nghĩa đó, những định hướng giá trị mang tính chất chung hay đặc thù đều có tác động nhiều chiều tới từng cá nhân, thúc đẩy sự hình thành và phát triển nhân cách của con người. Trong mỗi giá trị đều chứa đựng các yếu tố: nhận thức, tình cảm và hành vi của chủ thể trong quan hệ với sự vật, hiện tượng mang giá trị, thể hiện sự lựa chọn và đánh giá của chủ thể. Giá trị là nguồn gốc bên trong thúc đẩy con người hoạt động, là cơ sở hình thành nên định hướng giá trị. Việc các chủ thể (dân tộc, giai cấp, nhóm xã hội, cá nhân) trong hoạt động của mình luôn lựa chọn và hướng vào một số giá trị nhất định nào đó tạo nên "định hướng giá trị". Nói cách khác, định hướng giá trị là sự phản ánh chủ quan, có phân biệt các giá trị trong ý thức và tâm lý con người.

Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức, ở Việt Nam đang diễn ra sự giao thoa, bổ sung và thậm chí cả sự xung đột giữa các hệ giá trị. Một số giá trị "hào nhoáng" có xu hướng lấn át các giá trị truyền thống. Do vậy, cần có sự nhận thức và định hướng giá trị đúng đắn dựa trên nền tảng nhân văn và tiến bộ. 

Tóm lại, từ những đặc trưng của giá trị, có thể khẳng định, giá trị là cái có thể định hướng được. Giá trị không phải là yếu tố bất biến, nó thay đổi theo môi trường và hoạt động thực tiễn. Những giá trị một khi có ý nghĩa chuẩn mực và tác dụng định hướng có thể trở thành yếu tố chi phối, điều chỉnh hành vi, hoạt động của con người, hướng họ tới những mục đích cơ bản trong cuộc đời. Với tư cách chủ thể tác động vào tự nhiên - xã hội, con người - thông qua hoạt động thực tiễn của mình, không những sáng tạo ra những giá trị mà còn chiếm lĩnh các giá trị xã hội thành cái của riêng mình.

 

*************

(1) Xem: Hồ Sĩ Quý. Về giá trị và giá trị châu á. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.38-54.

(2) Từ điển Bách khoa toàn thư Xôviết. Nxb Tiến bộ - Mátxcơva và Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986, tr.1462.

(3) Từ điển Bách khoa Việt Nam 2. Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2002, tr.97.

(4) Nguyễn Quang Uẩn. Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị. Chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước KX 07, Hà Nội, 1995, tr.55.

(5) V.I.Lênin. Toàn tập. t.42. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1997, tr.364.

(6) Trần Ngọc Thêm. Giá trị và sự chuyển đổi hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, http://vietbao.vn, ngày 30/6/2010.

(7) Xem: Hồ Sĩ Quý. Về giá trị và giá trị châu á. Sđd., tr.41.

(8) Xem: Hồ Sĩ Quý. Sđd., tr.46-49.

(9) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập. t.20. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.135.

Nguồn: Tạp chí Triết học số 4/2011

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: