Chuyên mục
Hỏi Đáp

Tăng huyết áp thứ phát: nguyên nhân và cách điều trị | TCI Hospital

Tăng huyết áp là một căn bệnh phổ biến với tỷ lệ mắc cao, trung bình cứ ba người trên thế giới thì có một người bị tăng huyết áp. trong hầu hết các trường hợp, bệnh nhân sẽ bị tăng huyết áp cơ bản. tuy nhiên, hiện nay tăng huyết áp thứ phát đang trở nên phổ biến hơn. Hãy cùng tìm hiểu thêm về căn bệnh này trong bài viết tiếp theo.

1. Tăng huyết áp thứ phát là gì?

Không giống như tăng huyết áp nguyên phát hoặc vô căn, đây là một loại tăng huyết áp có căn nguyên, trong đó một nguyên nhân cụ thể có thể được xác định. loại tăng huyết áp này chiếm khoảng 10% tổng số các trường hợp tăng huyết áp.

2. nguyên nhân của tăng huyết áp thứ phát

Nguyên nhân của bệnh khá phong phú và đa dạng. trong đó, một số nguyên nhân phổ biến là:

– các bệnh liên quan đến thận như viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mãn tính, sỏi thận, hẹp động mạch thận, u nguyên bào tủy thượng thận, biến chứng tiểu đường (bệnh thận do tiểu đường)…

p>

– Các bệnh liên quan đến hệ thống nội tiết như u tủy thượng thận, cường aldosteron, hội chứng Cushing, cường giáp …

– bằng cách dùng thuốc, thảo mộc như cam thảo, nhân sâm, thuốc tránh thai, thuốc chống trầm cảm …

– liên quan đến thai kỳ như nhiễm độc thai nghén, tiền sản giật, tăng huyết áp thai kỳ…

– một số nguyên nhân khác như ngưng thở khi ngủ, hẹp eo động mạch chủ…

3. các triệu chứng

Giống như tăng huyết áp nguyên phát, bệnh này không có dấu hiệu hoặc triệu chứng cụ thể.

Một số dấu hiệu có thể liên quan đến bệnh này là:

– xuất hiện tăng huyết áp ở những người dưới 30 tuổi hoặc trên 60 tuổi.

– không có người thân có tiền sử tăng huyết áp.

– huyết áp rất cao: huyết áp tâm thu lớn hơn 180 mmHg hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn 110 mmHg.

– khi bệnh tăng huyết áp đã được chẩn đoán và kê đơn thuốc nhưng bệnh không đáp ứng với thuốc hạ huyết áp.

– Có các dấu hiệu của bệnh gây tăng huyết áp như cường aldosteron (hạ kali máu không rõ), u tủy thượng thận (có cơn tăng huyết áp kịch phát, nhịp tim nhanh, vã mồ hôi, nhức đầu), hội chứng Cushing (bụng béo, rạn da, teo cơ, mặt tròn như mặt trăng )…

4. cách chẩn đoán

Việc đầu tiên cần làm khi chẩn đoán bệnh là xác định tình trạng tăng huyết áp. do đó, chúng ta cần đo huyết áp thường xuyên, nhất là đối với những người có yếu tố nguy cơ. Nếu huyết áp đo được cao hơn bình thường, bệnh nhân nên tự kiểm tra huyết áp tại nhà thường xuyên trong một thời gian, sau đó bác sĩ sẽ đánh giá tình trạng của bệnh nhân. Theo Hội Tim mạch Việt Nam, huyết áp bình thường là huyết áp đo được dưới 120/80 mmHg; từ 140/90 mmHg trở lên được coi là huyết áp cao.

ngoài ra, hãy thực hiện các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm để giúp xác định nguyên nhân gây tăng huyết áp, chẳng hạn như:

– Siêu âm Doppler mạch thận khi nghi ngờ hẹp động mạch thận.

– các xét nghiệm liên quan đến hormone như cortisol máu, aldosterone, catecholamine trong máu và nước tiểu, tsh, ft4…

– Chụp MRI, CT bụng khi nghi ngờ có khối u tuyến thượng thận.

5. điều trị

Ngoài việc kiểm soát huyết áp như tăng huyết áp nguyên phát, điều trị tăng huyết áp cần xác định rõ nguyên nhân và đồng thời điều trị nguyên nhân gây tăng huyết áp. Bằng cách điều trị nguyên nhân gây tăng huyết áp, tình trạng tăng huyết áp cũng sẽ được cải thiện.

6.1. Một số nhóm thuốc chính được sử dụng để kiểm soát huyết áp trong bệnh tăng huyết áp thứ phát.

– Thuốc lợi tiểu: thuốc lợi tiểu thiazide như hydrochlorothiazide, chlorothiazide …

– thuốc chẹn kênh canxi như nifedipine, amlodipine…

– thuốc chẹn thụ thể angiotensin II như losartan, azilsartan, candesartan, valsartan…

thuốc chẹn beta như metoprolol, bisoprolol…

– Thuốc ức chế men chuyển như captopril, enalapril, perindopril, lisinopril…

6.2. một số lưu ý khi điều trị nguyên nhân tăng huyết áp thứ phát

– đối với tăng huyết áp thai kỳ: thuốc được lựa chọn là methyldopa, sau đó là thuốc chẹn kênh canxi, không phải thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II.

– điều trị cường giáp bằng thuốc kháng giáp tổng hợp.

7. biến chứng

bệnh có thể trầm trọng hơn do các bệnh liên quan (cũng là nguyên nhân gây ra huyết áp cao). Nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách, bệnh này có thể gây ra các biến chứng như:

– xơ vữa động mạch gây ra đau tim hoặc đột quỵ.

– chứng phình động mạch. vỡ túi phình có thể gây tử vong.

– suy tim.

– thu hẹp các mạch máu trong thận.

– thu hẹp các mạch máu trong mắt ảnh hưởng đến thị lực và cuối cùng dẫn đến mất thị lực.

– hội chứng chuyển hóa như cholesterol cao hoặc bệnh tiểu đường.

– ảnh hưởng đến trí nhớ.

8. đối tượng có nguy cơ tăng huyết áp thứ phát

Yếu tố nguy cơ của bệnh này là mắc bệnh thận, bệnh tim hoặc các vấn đề với hệ thống nội tiết. Ngoài ra, phụ nữ sinh con muộn sau 35 tuổi, đa thai có nguy cơ tăng huyết áp thai kỳ. lạm dụng thuốc giảm đau, corticoid cũng dễ dẫn đến cao huyết áp.

9. phòng ngừa

Các biện pháp giúp ngăn ngừa bệnh này là:

– Thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh, ăn nhiều rau và trái cây, hạn chế thói quen ăn mặn, ăn nhiều dầu mỡ, tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày, tránh rượu, bia, hút thuốc lá, duy trì cân nặng hợp lý.

– thường xuyên kiểm tra và theo dõi huyết áp của chính bạn tại nhà và đi khám bác sĩ khi bạn nhận thấy huyết áp tăng thường xuyên. Nếu có chỉ định dùng thuốc của bác sĩ, cần uống thuốc đều đặn, đủ liều, cả ngày và hỏi ý kiến ​​bác sĩ khi có dấu hiệu bất thường, không được tự ý dừng thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ.

– phụ nữ không nên mang thai sau 35 tuổi.

– hạn chế lạm dụng thuốc giảm đau, thuốc tránh thai, chỉ sử dụng corticosteroid khi có chỉ định của bác sĩ.

– theo dõi và điều trị các bệnh liên quan đến thận, tim mạch hoặc nội tiết.

Tăng huyết áp thứ phát là căn bệnh nguy hiểm, gây ra nhiều biến chứng. đồng thời, nó cũng là triệu chứng của các bệnh khác liên quan đến thận, hệ thống nội tiết hoặc động mạch chủ. do đó, việc phát hiện kịp thời bệnh tăng huyết áp cũng như đến các trung tâm y tế được công nhận để khám và điều trị là vô cùng quan trọng, nhất là đối với những người có nhiều yếu tố nguy cơ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.