Tôi. điều kiện tự nhiên

1. Vị trí địa lý:

Bạn đang xem: Yên bái ở đâu

An Bài là một tỉnh miền núi phía Bắc, nằm ở trung tâm miền núi phía Bắc và miền Trung Việt Nam, phía Tây Bắc giáp các tỉnh Lào Cai, Lai Châu; phía Đông và Đông Bắc giáp các tỉnh Hà Giang, Xuân Quang; và Phú Các tỉnh về phía đông nam, giáp tỉnh Sơn Lộ về phía tây. Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 6.892,68 km vuông, diện tích đất liền đứng thứ 8 trong số 12 tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung.

Tỉnh Yanbai có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm Thành phố Yanbai (thành phố trực thuộc tỉnh); Thị trấn Yilu; Quận 07: Trạm phát thanh truyền hình; Blind Cane; Văn học; Fan Yan; Hexagon Saddle; Calm Down; và 173 Tất cả cấp thị trấn các đơn vị hành chính (gồm 150 thị trấn, 13 huyện, 10 thị xã) cùng tồn tại hòa bình.

Vị trí địa lý là cửa ngõ phía Tây Bắc, trung điểm của một trong những hành lang kinh tế chính Côn Minh-Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng, có hệ thống giao thông tương đối đa dạng. Hình thức tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi để thờ cúng tăng cường hội nhập, giao lưu kinh tế thương mại, phát triển văn hóa xã hội … không chỉ với các tỉnh trong vùng, các trung tâm kinh tế lớn của cả nước, mà còn trong giao lưu kinh tế quốc tế, đặc biệt với các tỉnh Tây Nam Trung Quốc và các nước ASEAN.

2. Đặc điểm địa hình

Yên Bái nằm ở vùng núi phía Bắc, địa hình cao dần từ đông nam lên tây bắc, gồm 3 dãy núi lớn kéo dài theo hướng tây bắc – đông nam: phía tây là dãy núi Hoàng Liên. – Pu luong nằm giữa Honghe và Dahe, tiếp theo là Dãy núi cổ Ivory giữa Honghe và Liuhe, và các núi đá vôi ở phía đông giữa Liuhe và Luohe. Địa hình khá phức tạp, nhưng có thể chia thành hai vùng lớn: vùng cao và vùng thấp. Độ cao trung bình của khu vực cao nguyên trên 600m, chiếm 67,56% diện tích toàn tỉnh. Địa bàn thưa dân cư, có tiềm năng về đất đai, lâm sản, khoáng sản để phát triển kinh tế – xã hội. Vùng trũng có độ cao dưới 600m so với mực nước biển, chủ yếu là địa hình núi thấp, thung lũng lòng chảo, chiếm 32,44% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

3. Đặc điểm khí hậu

Tỉnh Yển Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 18-200c (cao nhất 37-390c, thấp nhất 2-40c). Các loại gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam. Lượng mưa phong phú nhưng phân bố không đồng đều, lượng mưa trung bình từ 1800 – 2000 mm / năm, lớn nhất là 2204 mm / năm và nhỏ nhất là 1106 mm / năm. Ở một số vùng cận khí hậu thường có mưa lớn vào mùa xuân.

* Các mùa chính trong năm : Khí hậu ôn hòa, có 2 mùa rõ rệt.

– Mùa lạnh: Từ tháng 11 đến tháng 3, vùng thấp lạnh kéo dài 115-125 ngày. Mùa lạnh ở vùng cao đến sớm và kết thúc muộn hơn nên kéo dài hơn ở vùng thấp. Ở khu vực cao nguyên từ 1500m trở lên hầu như không có mùa nóng, nhiệt độ trung bình ổn định dưới 20oC, cá biệt có nơi xuống 0oC, thỉnh thoảng có băng giá, băng tuyết hoặc hạn hán. Mùa lạnh bắt đầu (từ tháng 12 đến tháng 1), thường xuyên có mưa phùn vào cuối mùa, thường ở các khu đô thị yên tĩnh, thanh bình và yên bình.

– Mùa nóng: Tháng 4-10 là thời kỳ nóng ẩm, nhiệt độ trung bình ổn định trên 25oC, tháng nóng nhất 37-380oC. Mùa nắng nóng cũng là mùa mưa, lượng mưa trung bình từ 1500-2200 mm / năm, thường kèm theo lốc và lũ, gây lũ quét. Sự phân bố ngày mưa và lượng mưa tùy theo địa hình mà giảm dần từ đông sang tây theo từng tỉnh. Theo thung lũng sông Hồng thấp dần từ đông nam lên tây bắc, còn dòng chảy sông trong thung lũng giảm dần từ tây bắc xuống đông nam.

* Chế độ Mưa :

Yanbai là khu vực có lượng mưa trung bình. Theo số liệu của trạm khí tượng thủy văn tỉnh, lượng mưa trung bình tại trạm Yanbai là: 1740,6 mm / năm; động đất 1.368,7 mm / năm; mía kéo dây 1.834,5 mm / năm.

Sự phân bố lượng mưa có xu hướng tăng dần từ vùng đồng bằng đến vùng cao, lượng mưa phân bố không đều trong nhiều tháng trong năm. Các tháng ẩm ướt nhất là tháng 5 đến tháng 9 (114,8 đến 429,4 mm) và các tháng ẩm ướt nhất là tháng 12 đến tháng 3 (1,1 đến 80,3 mm).

Do lượng mưa không đều giữa các tháng nên tháng 10, 11 và 12 là mùa khô, lượng mưa bình quân chỉ 16,7mm / tháng nên hạn hán, không đủ nước cho sản xuất và sinh hoạt. Trong mùa mưa, một số nơi như Mucangzhai, ga đường sắt và huyện Văn Xương nhận được lượng mưa quá lớn, gây ra lũ lụt, thiệt hại cho mùa màng và thiệt hại cho các công trình giao thông và thủy lợi.

* Chế độ độ ẩm :

Theo số liệu khí tượng, độ ẩm tương đối tương đối cao, trung bình hàng năm của mỗi trạm như sau: Yanbai 86%; Văn chương 83%, Kho mù Lược 81%. Độ ẩm ở các vùng khác nhau trong tỉnh chênh lệch ít giữa các tháng trong năm, dao động từ 3 đến 50c. Càng lên cao, độ ẩm tương đối càng giảm. Độ ẩm thay đổi theo từng tháng vì độ ẩm phụ thuộc vào lượng mưa và hình thái bốc hơi (hình thái nhiệt và gió), các tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 2, 3, 4, 5, 6, 7 từ 80% -89%, tháng có độ ẩm thấp nhất Các tháng 11, 12, 1 có độ ẩm từ 77% – 85%.

Yanbai có lượng mưa hàng năm lớn và độ ẩm tương đối cao, thảm thực vật xanh tốt quanh năm và tính chất gió mùa là rất rõ ràng.

* Các hiện tượng thời tiết khác :

Sương muối: chủ yếu xảy ra ở độ cao trên 600m so với mực nước biển, càng lên cao số ngày sương muối càng nhiều. Ở vùng đất thấp của Thung lũng sông Hồng, rất hiếm sông chảy.

Mưa đá: Xảy ra lẻ tẻ ở một số khu vực, càng lên cao, mưa đá càng nhiều, thường vào cuối mùa xuân và đầu mùa hè, kèm theo dông lốc và xoáy cục bộ.

Ngoài ra, ở độ cao trên 1000m, có thể có băng tuyết vào cuối mùa đông.

* Vùng khí hậu :

Nó có đặc điểm phân chia Yanbai thành hai vùng khí hậu lớn, ranh giới của chúng được xác định bởi đường phân thủy núi cao theo hướng tây bắc – đông nam của hữu ngạn sông Hồng. Trong hai vùng này, có năm tiểu vùng với các đặc điểm khí hậu khác nhau.

Khu vực phía Tây : Phần lớn khu vực có độ cao trung bình hơn 700m, cấu tạo địa hình mạnh mẽ, khí hậu cận nhiệt đới và ôn đới, khí hậu ở khu vực này ít chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, gió tây nam nóng và khô, khí hậu vùng này có đặc điểm nắng nhiều hơn và ít mưa hơn so với miền đông. Căn cứ vào các yếu tố địa hình và khí hậu, khu vực này có thể được chia thành 3 tiểu vùng sau:

Huyện Mucang Chai Ya: Độ cao trung bình của khu vực này là 900m, là nơi có nhiều nắng nhất tỉnh và chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam. Do địa hình cao hơn nên nhiệt độ thấp hơn. Nhiệt độ trung bình là 18-200c, đôi khi xuống tới 0c vào mùa đông. Tổng nhiệt độ hàng năm từ 6.500-7.0000 độ C, lượng mưa 1.800-2.000 mm / năm, độ ẩm 80% thích hợp cho phát triển cây trồng và vật nuôi ở vùng ôn đới.

Ôn Xuyên Tây Nam Á: Độ cao trung bình của khu vực này là 800m, phần phía bắc có nhiều mưa và phần phía nam là khu vực ít mưa nhất trong tỉnh. Nhiệt độ trung bình 18-200 độ C, mùa đông nhiệt độ xuống 10 độ C, lượng mưa 1800 mm / năm, độ ẩm 84%. Thích hợp trồng các loại động vật và thực vật ở vùng cận nhiệt đới và ôn đới.

Tiểu huyện van chan-tu lu: Độ cao trung bình 250-300m, có thung lũng mường lộ với diện tích hơn 2.200 ha, nhiệt độ trung bình 22-230c, tổng nhiệt độ là 80.000 độ C quanh năm. Độ ẩm 83% thích hợp cho việc trồng cây lương thực, cây công nghiệp chè, đặc biệt là chè tuyết cao nguyên, quế, cây ăn quả và cây lâm nghiệp.

Khu vực phía Đông : Vùng khí hậu này chịu ảnh hưởng nặng nề của gió mùa Đông Bắc, với số ngày và lượng mưa lớn. Mưa phùn tiếp tục ở thành phố Ambai và huyện Trấn Yên. Nhiệt độ trung bình 21-220c, lượng mưa trung bình 1.800-2.000mm / năm, thích hợp cho phát triển các loại cây trồng, ngũ cốc, lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, chè, cà phê, nuôi trồng thủy sản … Có 2 phụ -khu vực:

Tiểu quận phía nam của Yan Town – Fanyan – Yanbai City – ba rãnh của Thung lũng sông Hồng, dưới chân núi Hoàng Liên – hệ thống núi Pung Luông. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23-240 ° C, và tổng nhiệt độ hàng năm là khoảng 80.000 ° C. Với lượng mưa trung bình 1.800-2.200 mm / năm, đây là khu vực đầu năm có mưa phùn kéo dài.

Huyện Lu’an-Heping thuộc thung lũng sông chảy trong khu vực hồ Thác Ba và là nơi có diện tích mặt nước lớn nhất tỉnh. Hồ Thác Ba có diện tích 23.400 ha, có một khí hậu ôn hòa và các điều kiện tuyệt vời. Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và du lịch.

Hai. Tài nguyên thiên nhiên:

1. Tài nguyên đất:

Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Diêm Bái là 689.268 ha, trong đó đất nông nghiệp 617.149 ha, chiếm 89,6% tổng diện tích tự nhiên; đất phi nông nghiệp 56.715 ha, chiếm 8,2% tổng diện tích tự nhiên. diện tích đất chưa sử dụng 15.404 ha, chiếm 8,2% tổng diện tích tự nhiên và 2,2% tổng diện tích tự nhiên. Tỷ lệ che phủ rừng trên 62%, đứng thứ hai cả nước.

Huyện Diêm Bái có nhiều loại đất phù hợp để trồng lúa, cây màu, cây hàng năm và cây công nghiệp lâu năm, trồng rừng che phủ, trồng rừng kinh tế … là các loại đất trọng điểm. Điển hình như: đất phù sa chiếm 1,33% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; đất vôi chiếm 82,57%; đất đỏ chiếm 1,76%; đất mùn alit chiếm 8,1%.

An Bạch là tỉnh có nhiều lợi thế để phát triển công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản, với diện tích rừng tự nhiên là 245.615,8 ha và rừng trồng là 187.934,9 ha, sản lượng gỗ khai thác khoảng 576.800 m3 gỗ / năm. Các loại keo, bồ đề, bạch đàn … và Hơn 90.000 tấn tre, nứa.

Tổng diện tích cây chè toàn tỉnh là 7.600 ha, sản lượng chè búp tươi khoảng 74.000 tấn, diện tích chè tập trung ở huyện văn chan 4.780 ha, hòa bình 904 ha, và 762 ha bình yên. An Bài có diện tích trồng quế lớn nhất cả nước, chất lượng quế thuộc loại tốt nhất, với diện tích 78.109 ha, chủ yếu được trồng ở vùng văn yên (44.000 ha), vùng trần yên (12.500 ha), khu van chan. 8.200 ha), luc yen 2.600 ha. Sản lượng quế khô hàng năm đạt hơn 17.700 tấn / năm. Diện tích sắn của tỉnh khoảng 9.000 ha, sản lượng gần 170.000 tấn / năm, tập trung ở Vạn An (hơn 5.800 ha) và Heping (hơn 2.500 ha).

Với hơn 2.000 ha đồng cỏ, Vườn Rừng được tận dụng triệt để thảm cỏ dưới tán, là lợi thế lớn để phát triển chăn nuôi trâu, bò, dê … và chăn nuôi gia cầm.

2. Nước

Yanbai là khu vực có lượng mưa trung bình, với lượng mưa trung bình hàng năm từ 1500mm đến 2200mm, tùy thuộc vào khu vực. Các tâm mưa có lượng mưa lớn hơn 2000mm nằm ở phía đông bắc tỉnh, thượng lưu sông và đông nam lưu vực sông Thiều. Những khu vực có lượng mưa thấp là những khu vực kín gió, chẳng hạn như khúc giữa sông Thia ở huyện Văn Chấn, nơi có lượng mưa trung bình hàng năm dưới 1600mm; lượng mưa hàng năm ở Thung lũng sông Thiều từ nguồn nước cũng nhỏ hơn 1600mm.

-Tài nguyên nước mặt:

Yên Bái có 2 hệ thống sông chính là sông Thao và sông Liushui. Đây là nguồn cung cấp nước mặt chính của tỉnh với hàng chục tỷ mét khối nước mỗi năm, cung cấp nước tưới cho sản xuất nông, lâm nghiệp và hộ gia đình. Ngoài ra, tỉnh có khoảng 24.700 ha ao và đập, chủ yếu tập trung ở các khu vực Heping, Lu’an và Chen’an. Các đầm lớn phân bố ở các xã giới phiên, huyện vọng minh (thành phố yên bái), minh quan (huyện tân yên), cung cấp hàng trăm triệu mét khối mỗi năm. Trong đó, lớn nhất là hồ Thác Bà, với diện tích 23.400 ha, dài 80 km, chỗ rộng nhất là 15 km, sâu khoảng 15 – 34 m, tổng lượng nước hồ cao bằng 2,9 tỷ mét khối.

Ngoài ra, nước mặt ở Ambai đến từ lượng mưa hàng năm. Yanbai là một khu vực có lượng mưa trung bình, với lượng mưa trung bình hàng năm từ 1500mm đến 2200mm, tùy thuộc vào khu vực. Các tâm mưa có lượng mưa lớn hơn 2000mm nằm ở phía đông bắc tỉnh, thượng lưu sông và đông nam lưu vực sông Thiều. Những khu vực có lượng mưa thấp là những khu vực có mái che, chẳng hạn như khúc giữa sông Thia ở huyện van chan, nơi có lượng mưa trung bình hàng năm dưới 1600 mm; lượng mưa hàng năm ở thung lũng sông Thiều từ nơi lấy nước trở lên cũng ít hơn hơn 1600 mm. Nhưng lượng mưa phân bố theo mùa, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (80-85% tổng lượng mưa cả năm), đặc biệt ba tháng có cường độ mưa và lượng mưa lớn nhất là tháng 6, 7 và 8, chiếm tỷ trọng cả năm 45- 55% lượng mưa. Trong các tháng mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, lượng mưa chỉ chiếm 15-20% lượng mưa cả năm. Tháng Giêng và tháng Hai là những tháng khô hạn nhất, và tình trạng thiếu nước thường xảy ra trong những tháng này.

Nhìn chung, nước mặt ở tỉnh An Bạch đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt. Tuy nhiên, lượng nước mặt thay đổi giữa mùa mưa và mùa khô do đặc điểm địa hình, điều kiện thời tiết và hậu quả của việc phá rừng nhiều năm trước đây. Vào mùa khô, mực nước sông suối ở mức thấp nhất. Các công trình thủy lợi đang thiếu nước, thủy điện Taba chạy kém, thời tiết miền Tây khô hạn, nhiều con suối cạn kiệt, sản xuất thiếu nước ảnh hưởng đến đời sống người dân. Trong mùa mưa lũ, dòng chảy, mực nước sông dâng nhanh, lũ quét thường xuyên xảy ra trên các dòng suối lớn, gây thiệt hại về hoa màu, nhà cửa và đời sống của nhân dân.

– Nước ngầm, nước khoáng: Yên Bái có nguồn nước ngầm dồi dào. Theo số liệu địa chất – thủy văn, nước ngầm và nước khoáng phân bố ở độ sâu 20-200m dưới lòng đất. Nước khoáng nóng phân bố chủ yếu ở phía tây huyện van chan, ga và thị trấn nghia, nhiệt độ trên 400 ℃, hàm lượng khoáng 1-5g / l, đã qua xử lý các nguyên tố độc hại có khả năng chữa bệnh. Tuy nhiên, sự phân bố nguồn nước ngầm không đồng đều theo các cấu trúc địa chất khác nhau, có nơi mực nước ngầm chênh lệch, có nơi chỉ vài mét, có nơi chỉ vài chục mét. Nơi đây có thể phát triển và cung cấp hàng chục nghìn m3 nước sinh hoạt cho người dân hàng năm, chủ yếu là hệ thống giếng khoan và hệ thống giếng khoan.

Nhìn chung, Yanbai giàu tài nguyên nước, với chất lượng nước tốt hơn và ít ô nhiễm hơn. Vì vậy, nó có giá trị to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội và đời sống hàng ngày, nếu được phát triển và sử dụng hợp lý, nó sẽ đáp ứng nhu cầu nước trong nhiều lĩnh vực như nông, lâm nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt.

3. Tài nguyên rừng:

Rừng và rừng là tài nguyên và tiềm năng của tỉnh. Có hệ thống thực vật rất phong phú và đa dạng, gồm nhiều loài và họ khác nhau, với nhiều loại lâm sản quý hiếm; cây thuốc quý và các loại lâm sản khác như tre, nứa, tầm vông. Theo số liệu hiện trạng rừng và rừng tỉnh An Bạch đến năm 2020, diện tích đất có rừng của tỉnh là 522.959 ha, chiếm 75,93% diện tích tự nhiên, trong đó diện tích có rừng là 4.335.507 ha. , tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh đạt 63%. Việc phân loại theo loại rừng như sau:

– 334.024,0 ha đất rừng sản xuất, chiếm 48,49% diện tích tự nhiên, trong đó diện tích có rừng là 264.355,2 ha, tập trung chủ yếu ở các vùng sản xuất giấy (bao gồm các khu: hòa bình, thị trấn, tân yên, đồng bằng văn yên, khu vực khác van chan) và khu vực trồng cây đặc biệt. Sản xuất quế (gồm các vùng: văn yên, trần yên và rải rác ở các vùng khác: văn chan, hòa bình, lục yên, thị trấn yên bái).

-152.787,8 ha đất rừng phòng hộ, chiếm 22,18% diện tích tự nhiên, trong đó diện tích có rừng là 133.795,6 ha, phân bố chủ yếu ở 3 khu vực: Khu rừng trú ẩn Dahe (bao gồm cả khu vực Mucang Chai), khu vực rừng trú ẩn Honghe (bao gồm khu: Ga Dahe Station)))., van chan, van yên, tran yên) và các khu rừng phòng hộ ven sông (gồm các khu: hòa bình, luc yên).

Tham khảo: Du Lịch Long Hải | Kinh Nghiệm Du Lịch Chi Tiết Năm 2022 | Dulich24

– Đất rừng đặc dụng 36.147,2 ha, chiếm 5,24% diện tích tự nhiên, trong đó diện tích có rừng là 35.300,9 ha, phân bố ở huyện Mucangchai và huyện Ôn An.

4. Tài nguyên khoáng sản

Tỉnh Anbai phong phú và đa dạng về tài nguyên khoáng sản. Theo số liệu địa chất khoáng sản thu thập được ở tỉnh An Bạch có hơn 372 khu vực khai thác, bao gồm khoáng sản nhiên liệu (than các loại), khoáng sản kim loại (sắt, đồng, chì, kẽm, vàng, v.v.), khoáng sản phi kim loại. (pyrit, v.v.), barit, đá photphat, cao lanh, fenspat, thạch anh, graphit, talc, đá vôi trắng dùng để lát và khoáng sản công nghiệp, vật liệu xây dựng, cát, sỏi …), khoáng sản quý hiếm (đất hiếm, đá quý) để nước khoáng, nước nóng.

Hiện tỉnh An Bạch đã phê duyệt 240 khu vực khai thác (170 khu vực tỉnh phê duyệt và 70 khu vực khai thác khoáng sản do Bộ phê duyệt), một số mỏ khoáng sản chưa được điều tra, đánh giá, chỉ ghi nhận trong công tác đo đạc lập bản đồ địa chất quy mô nhỏ. bao gồm khoáng nhiên liệu, khoáng kim loại, phi kim loại và khoáng công nghiệp, khoáng hiếm đến nước khoáng, nước nóng; phân loại để sử dụng theo các nhóm sau:

– Khoáng sản nhiên liệu: chủ yếu là than antraxit, than non và than bùn. Tuy nhiên, các điểm than nhìn chung có trữ lượng nhỏ và quy mô nhỏ. Được phát hiện ở các khu vực van chan, luc yên và tran yên với trữ lượng ước tính khoảng 779.000 tấn.

<3

+ Lignit: 10 điểm trong trầm tích Neogen ven sông đỏ. Trong số đó, cuộc điều tra sử dụng 2 điểm, đó là vượt đèn đỏ và vượt đèn vàng. Nhìn chung, bãi than có quy mô nhỏ, chất lượng kém, triển vọng không chắc chắn.

+ Than bùn: Có ở xã phú nham, huyện van chan, với trữ lượng dự báo là 103.832 tấn; than có hàm lượng humic, nitơ, phốt pho và kali cao. Nó có thể được phát triển và sử dụng như một loại phân bón vi sinh tốt.

– Khoáng sản kim loại: Khoáng sản chủ yếu là sắt, đồng và chì, kẽm, phân bố không tập trung, có trữ lượng trung bình và nhỏ.

+ Sắt: Tập trung chủ yếu ở các khu vực van chan, trần yên, van yên. Gần 200 triệu tấn quặng sắt, nhưng chất lượng quặng không cao (hàm lượng trung bình từ 20-40%), phân bố chủ yếu ở các huyện Văn chan (huyện Wicun – 14 triệu tấn), huyện Yan (huyện Shao Village, Đồi vi sinh, Đồi 300 m), huyện Văn Yên. Ngoài ra, còn có các khu vực quặng sắt mới phát hiện ở các xã Nghĩa Tâm, Minhan và Thượng Bằng La thuộc huyện Văn Chấn.

+ Đồng: Các mỏ đồng ở tỉnh An Bạch được tìm thấy ở xã Fengdetong và xã chau que ha thuộc huyện Vạn An (đây là điểm khai thác của làng phat, làng non, làng lom …); ở huyện van chan (là luồng, dong an xã luồng; làng bụt xã nam hanh) …

+ Chì-Kẽm: Chất lượng tốt nhưng phân bố rải rác, trữ lượng ít, điều kiện khai thác khó khăn. Gần đây, việc điều tra, đánh giá địa chất và tài nguyên khoáng sản đã được thực hiện trên các khu vực hòa bình chì, kẽm, Jinren và Xuanlai, và các khu vực có triển vọng đã được đưa vào quy hoạch quốc gia.

+ Vàng: Vàng nguyên thủy chủ yếu có ở huyện trắc lai, xã nam giáp huyện lỵ, xã tu lê huyện văn chan, vàng sa khoáng có ở nhiều nơi gần sông suối như: nii viên, chùa nii, làng văn chan huyện ty, lê yên, văn yên …

+ Đất hiếm: Tìm thấy ở xã yên phú – văn yên, quy mô nhỏ, trữ lượng ước tính cấp 121 + 121 là 27.681 tấn (tr2o3).

– Khoáng sản phi kim loại: chủ yếu là pyrit, barit, đá photphat, cao lanh, fenspat, thạch anh, graphit. Trong số này, khoáng sản cao lanh và fenspat nói riêng có chất lượng tương đối tốt, đạt tiêu chuẩn để sản xuất gốm và giấy. Phân bố rộng rãi nhưng trữ lượng không lớn và phân bố không đồng đều. Các loại khoáng sản còn lại phân bố ở một vài nơi trong tỉnh, trữ lượng nhỏ hoặc chất lượng thấp.

+ Pyrit: tìm thấy ở tân canh – lục yên; sắc đẹp – hòa bình. Trữ lượng của khu vực khai thác luc yên là khoảng 25.000 tấn, và hàm lượng c1 cấp s & gt; 33%.

+ Barite: Tìm thấy ở núi Hudong, Daming – Yên bình, chưa được điều tra.

+ Đá phốt phát: Được phát hiện ở huyện Lỗ An, tài nguyên ước tính khoảng 10.000 tấn.

+ Cao lanh: tập trung ở thành phố An Bạch và huyện Chen’an. Được khai thác tại một số địa điểm: xã Tân Thinh, cấp b + c1 + c2 được đánh giá tổng trữ lượng 1,1 triệu tấn, khối lượng al2o3 = 29 – 34%; fe2o3 = 0,8 – 4-2%. Độ trắng đạt 40-70%, đạt tiêu chuẩn làm răng sứ trám và sứ cách điện. Hiện đang điều tra báo dap – tran yen, yen hung – van yen.

+ Fenspat: Được phát hiện và đang thăm dò, khai thác ở các khu vực yên bình (Hồng Tuyền, Handa, đá granit nửa phong hóa), van yên (dốc 6000 – yên thái, yên hưng) và ở thành phố yên bai (dốc 6000 – yên ) thái, yên hưng) xa – minh bảo) và bình tĩnh.

+ Thạch anh: tập trung ở khu vực trần yên, mu cang chai, van chan, ga, mỏ nhỏ, chủ yếu là quặng cán, chất lượng đạt yêu cầu, thích hợp cho sản xuất đồ sứ, thủy tinh.

+ Graphite: Phân bố ruy-băng từ trái sang phải. Trong đó, đáng chú ý nhất là mỏ Beimao A, trữ lượng 141.799 tấn, hàm lượng c 3 – 70%. Trữ lượng của các mỏ yên thái và yên hưng ở khu vực van yên là 1,32 triệu tấn, và các mỏ thấp ở khu vực văn yên.

– Đá quý: tập trung ở huyện lục yên, xã tân hương – thái bình với các khoáng chất ruby, saphia, coridon và nhiều vùng có triển vọng khác như tre (trúc yên); nước lạnh (liễu đỏ – lục yên); hin om (minh tien – luc yen); phai – cạn (liễu do – luc yen); sáo vàng (an phú – luc yên); gần thung (liễu do – luc yên); vinh dong (liu do – luc yen).

-Xăng: Phân bố ở hai bên sông chảy qua vùng đá biến chất cổ sinh ở phía đông bắc, gồm: sillimanite-garnet, tập trung ở Anfu-Lvyan, Baoda, Daidong-Heping, Rongren-low dụ kiểu. Các khoản tiền gửi này được đánh giá là có triển vọng.

– vlxd: Bao gồm đá vôi, đá cẩm thạch canxit, các loại đất sét khác nhau, sỏi ở lòng sông. Đặc biệt trong những năm gần đây, nguồn đá vôi nguyên khối màu trắng đục được chú ý.

+ Đá vôi và đá cẩm thạch canxit phân bố rộng rãi ở Lu’an, Heping, Wenchang, Wen’an, Chen’an và các vùng khác, với trữ lượng lớn. Hiện tại, Lu Anning có một số mỏ quy mô công nghiệp. Đá vôi Yanbai có chất lượng tốt và trữ lượng lớn (khoảng 600 triệu mét khối đá vôi xi măng và khoảng 167 triệu mét khối đá vôi xây dựng thông thường), có khả năng khai thác và có thể sản xuất các loại đá nghệ thuật tinh xảo, đá ốp lát, vật liệu xây dựng và các sản phẩm. Xi măng và đá vôi được xuất khẩu dưới dạng khoáng sản công nghiệp. Đặc biệt là đá vôi trắng của Linh Yên, Taiping đã đầu tư thăm dò và phát triển, với sản lượng hàng năm 66 triệu m3 đá ốp lát khoáng và 390 triệu tấn phụ gia như bột cacbonat canxi.

+ Các mỏ đất sét và mỏ Puzlan của tỉnh không chỉ dùng để sản xuất gốm, gạch mà còn đáp ứng yêu cầu chất lượng cho sản xuất xi măng.

– Số liệu kỹ thuật: Gồm các loại đá granat, đá thạch anh, đá dolomit và các loại khoáng sản khác … Hầu hết các loại khoáng sản này đều chưa được đánh giá trữ lượng.

Mỏ -Talc: Được tìm thấy ở Làng Sanglu, Huyện Trạm – Vị trí mỏ chưa được khảo sát và đánh giá trữ lượng.

– Nước khoáng nóng: Trên địa bàn tỉnh có 16 điểm nước khoáng nóng. Chủ yếu tập trung ở các đá phun trào. Nhiệt độ của nước nóng là 30 – 500 độ C. Tổng lượng khoáng hóa 1-3,3g / l, nước thuộc nhóm canxi và magie sunfat, có hàm lượng silic và lưu huỳnh cao, có thể dùng để chăm sóc và điều trị.

Ba. Ranh giới hành chính:

Diêm Bái nằm ở miền Tây Bắc nước tôi, giáp với Đông Bắc. Phía đông bắc giáp các tỉnh Tuân Quang và Hà Giang, phía đông nam giáp Phú Thọ, phía tây nam giáp Sơn La, phía tây bắc giáp Lai Châu và Lào Cai. Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 6892,68 km vuông. Theo Niên giám thống kê năm 2020, tỉnh An Bạch có tổng dân số là 831.586 người, với mật độ dân số trung bình là 121 người trên một km vuông.

Yanbai bao gồm 01 thành phố, 01 thị trấn và 07 huyện, với tổng số 173 đơn vị hành chính cấp thị xã (bao gồm 150 xã, 13 huyện và 10 thị trấn). Trong đó, 70 xã vùng cao và 62 xã đặc biệt khó khăn được đầu tư theo quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cả nước. Có 2 khu vực cao nguyên là nơi đóng quân của những kho củi mùn (hơn 80% là dân tộc Miêu), được phân bố ở 61 khu vực nghèo khó và thiếu thốn trên cả nước …

Tên

Diện tích (km vuông)

Dân số (người) (2020)

Xã / Huyện / Thị trấn

Thành phố im lặng

106,83

106.109

15 đơn vị hành chính cấp thị xã, gồm 09 huyện và 06 thị trấn, bao gồm:

Phường: yên thinh; đồng tâm; Minh Tân; Nguyễn Phúc; Nguyễn Thái Học viện; Pink Galaxy; An toàn; Nam Lực; Hợp lý.

Các xã: minh bao, tân thinh, tuy loc, van phu, gioi quyen, au lau.

Thị trấn Yilu

107,63

69.650

Có 14 đơn vị hành chính cấp thị xã, gồm 4 huyện, 10 xã, bao gồm:

Phường : cau thia, trạng pu, tân an, trung tâm

Xã: hanh son, nghia an, nghia lo, nghia loi, nghia phuc, phu nham, phuc so n, son a, thach luong, thanh luong.

Huyện Lu’an

810.01

108.781

Xem thêm: Biển số xe 73 ở tỉnh nào? Biển số xe Quảng Bình là bao nhiêu?

Bao gồm 01 thị trấn; 23 xã

Thị trấn: Một thị trấn yên tĩnh.

Xã: tân phuong; Lintong; Thiện chí; Tiêu chuẩn hóa; Tuyên bố Trung; Sơn mai; Hòa bình; Thuê thương mại; Qinghe; Dongguan; Changzhu; Phúc lợi; Trung tâm; An ninh; Magic Bar; quy trình thông minh; mới thành lập; liễu làm; hạnh phúc vĩnh cửu; tương lai; bình minh của mùa xuân; yên ngựa chiến thắng; các nhà lãnh đạo mới.

Khu vực đánh bóng nhà kho bằng gỗ

1.200,96

65.042

Bao gồm 01 thị trấn; 13 xã

Thị trấn : Lược mù.

Xã: kim nội; hồ số bốn; làm; háo mang; dế su phình; tạo âm đạo; cao mỹ; lông; nghiêm; tạp dề; nam có; hét.

Quận Xe lửa

746,71

34.680

Bao gồm 01 thị trấn; 11 xã

Thị trấn : Bandstand

Xã: Làng mù; Open Edition; Rafters; Bài hát ru; Trạm diễn tập; Bah Bah; Ngôi làng thứ hai; Ác linh; Hồ Uplift; Palau và Tudan.

Quận Tân An

629,21

85,668

Có 21 đơn vị hành chính cấp thị xã, gồm 20 thị trấn và 01 thị trấn

Thị trấn : Cực lạc cổ đại

Xã: Fan Hai; Tân Đông; Hồng Thanh; Hoa đào; Xã Honka; Mạnh hơn; Mạnh hơn; Lương lớn hơn; Một mối; Trả nợ; Thịnh vượng; Insight; Cửa hàng Nga; Ass Kích thước; Không thay đổi; bể y tế; Yueqing; Baohong; Yuehong; Mingquan; hưng thịnh.

Quận Fan Chen

1.129.12

118,195

24 đơn vị hành chính cấp thị xã, trong đó có 21 thị trấn 03 thị trấn

Thị trấn: trang trại liên sơn, trang trại trần phú, trang trại sơn thị.

Xã: an luong, binh thuan, cát thinh, chan thinh, dai lich, dong khe, gia hoi, minh an, nam bung, nam lanh, nam ten, nghia son, nghia tam , son luong, thờ do, suoi bu, suoi giang, stream quyen, tan thinh, thuong bang la, tu le.

Quận Fan Yen

1.390,08

130.218

Có 25 đơn vị hành chính cấp thị xã, bao gồm 24 thị trấn và 01 thị trấn

Thị trấn : Giao dịch một

Xã: lang thip, chau que thuong, chau que ha, lam giang, thanh bình, quang minh, dong an, phong tu ha, phong tu thuong, xuan tuong, tan hop, dong cuong , mo dong, ni a, yen thai, yen hop, xuan ai, vien son, gold mine, na hau, dai son, dai phap, yen phu, an thinh.

Khu vực hòa bình

772.13

113.243

Có 24 đơn vị hành chính cấp thị xã, gồm 22 thị trấn và 02 thị trấn:

Xã: Heping, Bachha, Baoai, thank you, thank you, Dai Dong, Xuan Long, Dai Ming, Handa, Mengshan, Meiren, Yucan, Fuan, Funinh, phu thinh, yen thanh , tan huong, tan nguyen, thinh, vinh kien, vu linh, xuan lai,

Thị trấn : Yên bình; Thác nước.

Bốn. Tiềm năng kinh tế

1. Lợi thế kinh tế:

Yan Bai có lợi thế phát triển các sản phẩm nông, lâm nghiệp liên quan đến lĩnh vực nguyên liệu: trồng rừng và chế biến giấy, bột giấy và ván gỗ; trồng và chế biến quế, chè, cà phê; trồng và chế biến sắn và trái cây, nuôi trồng và chế biến thủy sản. Giàu tài nguyên khoáng sản, có điều kiện khai thác, chế biến đá quý, cao lanh, fenspat, bột cacbonat canxi, sắt … và sản xuất vật liệu xây dựng: xi măng, gạch, sứ kỹ thuật, sứ dân dụng, đá ốp lát. , Đá nghệ thuật và các vật liệu xây dựng khác.

Amber không chỉ là cửa ngõ vùng Tây Bắc Việt Nam, mà còn là trung tâm kết nối dọc hành lang kinh tế chính Côn Minh-Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng. Các tỉnh miền núi. Yanbai có khí hậu nhiệt đới ôn hòa, tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, môi trường sinh thái trong lành, cảnh quan thiên nhiên trùng điệp, sơn thủy hữu tình. Ngoài ra, Yan Bai có nguồn nhân lực dồi dào, chất lượng cao, người dân hiền hòa, chịu khó, cần cù, mến khách. Đặc biệt, An Bài có nhiều nét văn hóa đặc sắc, mang đậm bản sắc dân tộc … Đã định hình nên hình ảnh An Bài với tiềm năng vô hạn, thế mạnh, là vùng đất mới mở ra nhiều cơ hội cho các hoạt động đầu tư phát triển. .

Đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai hoàn thành và thông xe đã tạo điều kiện thuận lợi cho An Bài rút ngắn khoảng cách đến các khu kinh tế trọng điểm như thủ đô Hà Nội chỉ còn 120 km. Cảng Lào Cai rút ngắn còn chưa đến 130 km, rút ​​ngắn cảng Hải Phòng còn chưa đến 190 km, đồng thời giúp cho việc giao lưu hàng hóa từ Hổ Phách đi Hà Giang, Xuân Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Sơn Tây được thuận lợi. Heping và các khu kinh tế lân cận khác. Những yếu tố này đã tạo điều kiện thuận lợi để Yan Bai mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu, phát triển kinh tế với các tỉnh, thành phố trong và ngoài nước.

Vị trí địa lý ưu việt, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, chính sách đầu tư thông thoáng, hấp dẫn … là những điều kiện quan trọng để chào đón các nhà đầu tư. Hãy đến với Yanbai để cùng nhau hợp tác và phát triển.

2. Tài nguyên Du lịch:

Yanbai là vùng núi có cảnh quan thiên nhiên đa dạng, môi trường sinh thái trong lành, nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử.

Khu du lịch thắng cảnh Hồ Taba có diện tích hơn 19.000 ha, với hơn 1.300 hòn đảo lớn nhỏ, được bao quanh bởi các dãy núi và nhiều hang động kỳ thú như động Shuixian và động Chunlong. Xiadong, Gaohaishan và Mafushan còn được gọi là “Vịnh Hạ Long trên núi”. Nơi đây có tiềm năng phát triển loại hình du lịch sinh thái quy mô lớn.

Khu vực phía Tây (huyện Văn chan và thị trấn Nghĩa Lộ) có cánh đồng mường lộ – vựa lúa lớn thứ hai ở Tây Bắc. Danh lam thắng cảnh độc đáo và điểm du lịch hấp dẫn như suối giang ở độ cao gần 1.400m – nơi đây có thánh địa chè cổ thụ hàng thế kỷ, suối nước nóng ban bon – nguồn nước nóng tự nhiên có nhiệt độ 350c – 450c; 2300 ha diện tích Ruộng bậc thang Mucangchai được xếp vào danh sách Di tích văn hóa đặc biệt cấp quốc gia, được giới truyền thông Mỹ ca ngợi là vẻ đẹp ngoạn mục và tinh tế nhất thế giới; Khu bảo tồn thiên nhiên Nakou ở huyện Vạn An; hồ Dam van hoi ở thị trấn huyện Yên; Khu bảo tồn loài và sinh cảnh ở Xã Sản xuất huyện Mucang Chải … hoàn hảo để phát triển khu nghỉ dưỡng sinh thái, hệ thống nhà nghỉ biệt lập với kiến ​​trúc cao nguyên, sinh cảnh …

Ngoài ra, ở An Bạch còn có nhiều di tích lịch sử văn hóa phục vụ du lịch văn hóa tâm linh như: Đền Đông Kiều, Đền Yashan, Chùa Huyện – Đền Heipao – Đền Dacai, Đền Taba, Đền Hương Thảo, Chùa ngọc am … cộng với văn hóa ẩm thực của các dân tộc và kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú, như múa xoè, múa khèn, hát giao duyên … yếu. Các yếu tố thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

(Dữ liệu được trích dẫn từ các tài liệu sau: Niên giám thống kê Ontario 2020; Dữ liệu được Ủy ban nhân dân Ontario công bố theo Quyết định số 323 / qd-ubnd ngày 26 tháng 2 năm 2021) Bang Rừng và Lâm nghiệp ở Ontario vào năm 2020 Land; Các văn bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc cung cấp thông tin, số liệu, địa phương phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của tỉnh. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ).

Xem thêm: Đổi tiền Đô (USD) ở đâu Hợp pháp – Giá cao – Không bị phạt?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.