Chuyên mục
Tranh

Bình giảng bức tranh tứ bình trong bài Việt Bắc – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng

chủ đề bài học: nhận xét về hình ảnh tứ bình trong bài học Tiếng Việt

binh giang buc tranh tu binh trong bai viet bac

bạn đang xem: bình luận về hình ảnh bộ tứ trong bài học tiếng việt

5 bài văn mẫu bình luận về hình ảnh cái tứ trong bài văn tế Việt Nam

1. nhận xét về bức tranh tứ bình trong bài Tiếng Việt mẫu 1:

nói đến viet bac là nói đến cội nguồn của cách mạng, nói đến mảnh đất trung du nghèo khổ nhưng đầy đau thương, nơi đã in dấu bao kỷ niệm của một thời kỳ cách mạng gian khổ nhưng hào hùng, để rồi khi xa nhau lòng ta nao nao. không lo lắng và cứ thế, sợi nhớ, sợi tình đan xen vào nhau như cái gọi là “ta – ta” của một đôi lứa yêu nhau. như nhà thơ trữ tình đã từng viết “khi ta ở trần gian chỉ là nơi ở / khi ta xuống trần gian bỗng trở thành linh hồn”. Đúng! viet bac đã chuyển hóa một tâm hồn đầy tình yêu trong thơ mình bằng những ca từ như tiếng nhạc ngân nga, với những khung cảnh với những con người đầy ắp kỷ niệm khó quên.

“Khi đi về lại nhớ mình, nhớ hoa và người, rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi, đèo cao trong nắng, dao thắt lưng

ngày xuân rừng nở trắng xóa nhớ người đan nón, chuốt từng sợi chỉ rừng keo đổ vàng, nhớ em gái hái măng một mình, rừng thu trăng soi bình yên, nhớ ai khúc thủy chung ”

tou huu là một nhà thơ trữ tình chính trị, thơ của ông thể hiện tình cảm cách mạng rất nhẹ nhàng nhưng cũng có chiều sâu. viet bac là đỉnh cao của thơ phú nói riêng và thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung. Bài thơ được viết vào tháng 10 năm 1954, khi trung ương đảng và chính phủ, bác Hồ và cán bộ kháng chiến rời “thủ đô ngàn gió” về “thủ đô hoa vàng nắng ba đình”. cả bài thơ là nỗi nhớ da diết trào dâng những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc tuy rất khắc nghiệt nhưng vui tươi, hào hùng. nhưng có lẽ ấn tượng sâu sắc nhất mà bài ca dao việt nam để lại có lẽ là câu ca dao nói về hình ảnh tứ bình với bốn mùa xuân – hạ – thu – đông.

Mở đầu khổ thơ có hai câu thơ giới thiệu nội dung bao hàm cảm xúc chung của đoạn thơ:

“Khi trở lại với chính mình, tôi nhớ những gì tôi đang có, tôi nhớ những bông hoa với bạn”

câu thơ đầu sử dụng câu hỏi tu từ “em có nhớ anh không?”, câu thơ thứ hai là lời tự đáp, phép ám chỉ “ta” được lặp lại bốn lần với âm “a” là âm mở đầu tạo nên câu thơ. với âm hưởng xa xăm, nồng nàn. với đểu, bức tranh đã khuất không chỉ gợi lại những tháng ngày gian khổ “cùng bát cơm chung nửa chăn”, mà còn gợi lại vẻ đẹp tươi đẹp của hoa và người. ở đây, loài hoa tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên của phương bắc. và dân tộc Việt Nam với chiếc áo chàm nghèo nhưng giàu có. hoa và người hòa quyện vào nhau trong vẻ đẹp hài hòa, đằm thắm tạo nên nét riêng biệt, độc đáo của vùng đất này. chính điều đó đã tạo nên cấu trúc độc đáo cho bài thơ. trong bốn cặp lục bát, câu sáu là nhớ hoa. , nhớ cảnh và câu tám là nhớ người. cảnh và người trong mỗi câu đều có sắc thái và nét thú vị riêng.

Khi nghĩ đến mùa đông, chúng ta thường nghĩ đến cái lạnh thấu xương, cái buồn của những ngày mưa gió, cái buồn của tiết trời u ám. nhưng đến với viet bac trong thơ của to huu thì lạ. mùa đông ấm một cách đáng ngạc nhiên:

“rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi, bước cao trong nắng có ánh dao thắt lưng”

điểm xuyết trên nền xanh ngút ngàn của rừng cây là màu hoa chuối đỏ tươi khoe sắc dưới ánh nắng. Nhìn từ xa, bông hoa như những ngọn đuốc sáng, tạo nên một bức tranh với những đường nét và màu sắc đối lập, hài hòa, cổ điển và hiện đại “đỏ tươi” – màu hoa chuối ấm áp nổi lên giữa màu xanh ngút ngàn của núi rừng, làm nên thiên nhiên. của Việt Nam trở nên tươi sáng, ấm áp và như một sức sống tiềm ẩn, xua tan đi cái lạnh lẽo, hiu quạnh vốn có của núi rừng. câu thơ gợi cho ta liên tưởng đến màu đỏ của hoa lựu trong thơ của nguyễn trai:

“thạch lựu vẫn phun ra đỏ hồng liên tục, hết mùi thơm”

Từ sự liên tưởng đó, chúng ta có thể thấy mùa đông trong bài thơ cũng gửi gắm hơi ấm của mùa hạ chứ không phải cái lạnh giá hoang dại do sắc đỏ của hoa chuối mà như bừng lên từ màu xanh của núi rừng.

với vẻ rực rỡ của hoa chuối, đồng bào chiến khu đã lên núi làm rẫy, phát rẫy để sản xuất nhiều lúa, khoai để duy trì cuộc kháng chiến “bước cao, mặt trời. chiếu vào thắt lưng ”. đối diện với thiên nhiên bao la, con người dường như càng trở nên hùng vĩ, hùng vĩ. ở đây nhà thơ không tượng trưng cho khuôn mặt, mà thu vào thần thái tươi sáng nhất. đó là tia nắng le lói trên chiếc lá rừng ngang hông cô. ở đây, câu thơ vừa mang ngôn ngữ của thi ca nhưng cũng là ngôn ngữ của nghệ thuật nhiếp ảnh. người đàn ông như một tiêu điểm của ánh sáng. người đó cũng xuất hiện trong tư thế và tư thế đẹp nhất: “đèo cao”. con người đang chiếm ngọn, chiếm núi rừng, tự do “núi non là của ta / trời xanh, đây là của ta”. đó là tư thế thống lĩnh đầy kiêu hãnh và vững vàng: giữa núi rừng và nắng vàng, giữa đất trời bao la và rừng xanh bao la. người đó đã trở thành linh hồn của hình ảnh mùa đông việt bắc.

mùa đông đã qua, mùa xuân sắp đến. Khi nghĩ đến mùa xuân, chúng ta nghĩ ngay đến sức sống mới của cỏ cây, hoa lá và trăm loài bừng tỉnh sau một mùa đông dài. Đây là mùa xuân ở miền bắc Việt Nam:

“Ngày xuân rừng nở trắng xóa, nhớ người đan nón, chuốt từng sợi”

Bao trùm lên khung cảnh mùa xuân là màu trắng nhẹ nhàng, trong trẻo, tinh khôi của hoa mai nở khắp rừng: “xuân mai nở rừng”. “trắng rừng” được viết theo kiểu đảo ngữ và từ “trắng” được dùng như một động từ để nhấn mạnh màu sắc, màu trắng dường như lấn át toàn bộ màu xanh của lá và làm bừng sáng cả khu rừng. màu trắng dịu mát của hoa mai. động từ “nở hoa” làm cho sức sống của mùa xuân lan tỏa, tràn trề nhựa sống. Không phải lần đầu hu viết về màu trắng đó, năm 1941 viet bac cũng đón chú ho trong màu hoa mai:

”ôi, buổi sáng mùa xuân này bốn mươi mốt mùa xuân nở trắng rừng biên giới, mơ màng tĩnh lặng, chim hót vui vẻ ngẩn ngơ,

Mùa xuân trở nên tươi mới hơn bởi sự xuất hiện của hình ảnh con người với hoạt động “bừng sáng từng sợi tơ”. vẻ đẹp tự nhiên trong công việc hàng ngày. Từ “rực rỡ” và hình ảnh thơ đã thể hiện được bàn tay chăm chỉ của những con người cần cù: cần cù, tỉ mỉ, khéo léo, tài hoa, nhanh nhẹn, cẩn thận, đó cũng là những đức tính cần cù của người Việt Bắc. .

mùa hè đến với tiếng ve rộn ràng, hình ảnh Việt Nam sống động hơn bao giờ hết:

“tiếng ve kêu rừng đổ vàng, nhớ người chị hái măng một mình”

Lúc ve sầu cất tiếng hót cũng là lúc hổ phách rừng rực vàng. động từ “to pour” là một động từ mạnh mô tả sự đồng loạt ngả vàng của những bông hoa hổ phách vào đầu mùa hè. màu của cây phách đổ vàng xuống suối dường như chuyển nắng hè và tiếng hót của tiếng ve kêu vàng rực. Đây là một bức tranh sơn mài được vẽ theo phong cách hoài cổ nên ánh lên ánh sáng, màu sắc và âm thanh náo nhiệt. chủ nhân không chỉ có tài miêu tả vẻ đẹp của từng mùa mà còn có thể miêu tả sự chuyển động thay đổi của thời gian và cảnh vật. . Chỉ trong một câu thơ trên, chúng ta có thể thấy mọi thời gian đều luân chuyển một cách sống động: tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến, và cây hổ phách chuyển sang màu vàng tươi. đây là một biểu hiện độc đáo của chủ nghĩa dân tộc.

Xuất hiện giữa thiên nhiên vàng rực nhộn nhịp ấy là hình ảnh cô gái áo chàm cần mẫn

hái măng rừng để cung cấp cho bộ đội kháng chiến: “Nhớ chị tôi tự hái măng”. hái măng một mình mà không gợi được ấn tượng về sự cô đơn, lẻ loi như bóng dáng người phụ nữ miền núi trong thơ cổ; trái lại, nó rất trữ tình, thơ mộng, gần gũi và thân thương. hình ảnh thơ còn gợi lên vẻ đẹp không đau thương của người con gái. đằng sau đó là rất nhiều sự đồng cảm và tôn trọng dành cho tác giả.

vào mùa thu, cảnh sắc núi rừng chiến khu như được tắm mình trong ánh trăng xanh, trong sáng và mát dịu:

“Rừng thu trăng soi hòa bình nhớ ai khúc tình thủy chung”

Cả không gian bao la tràn ngập ánh trăng, đó là ánh trăng của tự do, của hòa bình soi sáng niềm vui cho từng núi rừng, bản làng Việt Nam. Tôi đã từng biết đến mùa thu đầy trăng trong thơ anh khi anh còn ở chiến khu:

“Trăng qua cửa sổ báo tin quân bận rộn, hãy đợi hôm sau tiếng chuông chợt tỉnh để nhận tin chiến thắng liên khu”

Không có chuông chiến thắng ở đây, nhưng bạn có thể nghe thấy tiếng hô. đó là bài hát trong sáng của các dân tộc anh em, bài hát gợi lại sự chung thủy của tình yêu. Đây cũng là bài hát của núi rừng việt bắc của tình yêu mười lăm năm gắn bó mặn nồng.

có! bức tranh mùa thu ở việt bắc hoàn thành bức tranh núi rừng tuyệt đẹp và khép lại bài thơ bằng bài ca dao “ân tình thủy chung” gợi lên những rung động sâu sắc về tình yêu quê hương đất nước.

Bằng những nét chấm phá giản dị, vừa cổ điển vừa hiện đại, bài thơ trên của Tố Hu đã làm nổi bật hình ảnh cảnh và người suốt bốn mùa của chiến khu Việt Bắc. cảnh và người hòa quyện làm đẹp cho nhau, làm cho bức tranh thân thuộc, sinh động và xúc động hơn. mọi thứ tan thành nỗi nhớ và say đắm lưu luyến hồn người họa mi về quê.

———————— hết bài 1 —————————

ngoài nhận xét về bức tranh bốn ô vuông trong bài học Tiếng Việt , các em cần tìm hiểu thêm nhiều nội dung khác như tìm hiểu bài học Tiếng Việt hay hoàn cảnh từ ra đời bài thơ việt bắc củng cố kiến ​​thức.

2. nhận xét về hình ảnh tứ bình trong bài Tiếng Việt mẫu 2:

“ouch! nỗi nhớ nhà, không bao giờ! “. nỗi nhớ nhà vượt thời gian, vượt không gian. nỗi nhớ nhà len lỏi trong lòng người … và nỗi nhớ nhà ấy vẫn luôn ám ảnh và cháy bỏng trong tâm hồn người chiến sĩ cách mạng miền xuôi khi đã xa quê hương Việt Bắc thân yêu – nơi đã từng nuôi nấng tôi trong những ngày kháng chiến gian khổ….

Tôi về, tôi nhớ mình, nhớ hoa và người, rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi, đèo cao, nắng vàng thắt lưng. mùa xuân hoa mơ nở trắng rừng nhớ người đan nón đan từng sợi. em gái hái măng một mình giữa rừng thu trăng soi trong hòa thương nhớ ai câu hát ân tình thủy chung.

trong cùng một bài thơ ngắn, nhưng từ “nhớ” được lặp lại năm lần. nỗi nhớ kéo dài từ câu đầu đến câu cuối. hai dòng đầu là từ gợi “nhớ”: anh có nhớ em không? Không? Riêng tôi, tôi vẫn nhớ! Cách xưng hô gợi sự thân thiết, tình cảm mãnh liệt Tôi và tôi tuy hai mà một, tuy một mà hai. người đã khuất nhớ gì? bắc việt có gì để nhớ, yêu? Câu thơ rất rõ ràng phải không?

“Tôi sẽ quay lại, tôi nhớ những bông hoa với bạn”

Núi rừng, cảnh sắc Việt Nam tựa “hoa”. nó tươi, sáng và “thơm”. trong hình ảnh thiên nhiên ấy hiện lên hình ảnh con người, giản dị, chân chất, mộc mạc. Sa mạc đẹp vô cùng, con người và thiên nhiên hòa quyện và gắn kết với nhau tạo nên một phong cách viet bac độc đáo.

Bốn mùa của đất nước được thể hiện bằng những câu thơ ngắn gọn với hình ảnh, chi tiết chính xác và đặc điểm, mỗi mùa có một hương vị đặc trưng riêng.

Vào mùa đông, khu rừng xanh tươi, điểm xuyết những bông hoa chuối “đỏ tươi” và ánh nắng vàng rực rỡ. mùa xuân đến, cả khu rừng bừng lên bởi sắc trắng của hoa mai. mùa hè có tiếng ve kêu, ve sầu. “rừng hổ phách vàng” và khi anh trở về, thiên nhiên được chiếu sáng bằng màu vàng dịu của ánh trăng. bài thơ tràn ngập những màu sắc rực rỡ và rực rỡ: xanh, đỏ, vàng, trắng … những màu sắc này đánh vào giác quan của người đọc. khi tiếp xúc với những dòng thơ của nhà thơ, dường như chúng ta đang chiêm nghiệm một bài thơ sống động. trong đó, màu sắc được sử dụng hài hòa tự nhiên, tôn lên vẻ đẹp của núi rừng Việt Nam.

Thời gian trôi theo dòng thơ. anh ta có những bước đi vững chắc, chắc chắn đến nỗi không thể nhìn thấy sự thay đổi của các mùa trong năm. bản chất của viet bac cũng được mô tả theo thời gian. buổi sáng hoa nở trắng rừng, giữa trưa nắng chói chang, ban đêm vầng trăng soi bàng bạc muôn nơi … núi rừng Việt Nam như đang thay da đổi thịt trong từng khoảnh khắc …

và khung cảnh đẹp đến mê hồn ấy càng trở nên hài hòa, ấm áp và sống động hơn khi hình ảnh con người xuất hiện. con người đang làm tổ trong tự nhiên, giống như một bông hoa đẹp nhất, nó có hương thơm ngọt ngào nhất. mỗi câu thơ tả cảnh lại được ghép với một câu thơ tả người. cảnh và người hòa quyện vào nhau. đây là những con người chăm chỉ, gắn bó và tâm huyết với công việc. tiếng “dao thắt lưng”, người “đan nón”, “chị hái măng một mình” và bản tình ca của ai đó vang lên giữa đêm núi ngân nga… hình ảnh con người là vẻ đẹp của thiên nhiên. . sáng hơn. chính họ đã soi sáng thiên nhiên, làm cho thiên nhiên tươi sáng hơn. chính họ đã khơi gợi nỗi nhớ về những người đã khuất. đọc bài thơ ta cảm nhận được vẻ đẹp bình dị, trong sáng. của tâm hồn Việt Bắc. ở đó họ đối xử với nhau bằng tình yêu thương chân thành, thủy chung “trước sau như một”. nuôi lính, nuôi cách mạng và nâng cao đời sống

toàn quốc kháng chiến … dân tộc Việt Nam giản dị nhưng anh dũng.

Gợi lên hình ảnh thiên nhiên và con người nơi đây, chủ nhân đã thể hiện tình cảm chân thành, tấm lòng son sắt và niềm mong mỏi sâu sắc. tôi với bạn, bạn và tôi đã từng:

<3

đã chia sẻ những khoảnh khắc ngọt ngào và khó khăn như vậy! chúng ta, làm sao chúng ta có thể quên được. tình yêu ấy đã ăn sâu vào tâm hồn kẻ ở và người đi. vì vậy, khi ra đi, nhung nhớ là tình cảm khắc sâu trong tim. và cảm xúc của tác giả.

Giọng thơ nhẹ nhàng mà sâu lắng. toàn bộ khổ thơ chứa đựng sự lạc quan, vui vẻ và

tin vào cuộc sống. nó mang một giọng điệu trữ tình, thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người chân thành và lòng yêu nước nồng nàn của nhân vật. người ra đi và quấn quít trong trái tim người ở lại….

Những câu thơ của

thor có một tính khái quát lớn so với toàn bộ bài thơ. Ca từ giản dị nhưng trong sáng thể hiện những rung cảm chân thực trước vẻ đẹp của núi rừng và con người Việt Bắc. nỗi nhớ trong thơ anh. đúng yếu tố đã đi vào lòng người đọc, như một bài hát nổi tiếng ngọt ngào để lại những cảm xúc sâu lắng và dịu dàng trong lòng chúng ta ….

3. nhận xét về hình ảnh bộ tứ trong bài Tiếng Việt văn mẫu 3:

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, khi lĩnh vực văn học Việt Nam thổi làn gió “thơ mới”, yếu tố này lại trở về với những bài thơ truyền thống. Khi đọc “Việt Bắc”, ấn tượng đầu tiên mà người đọc dễ dàng nhận thấy là tính dân tộc và văn hóa dân gian đậm đà của bài thơ. Tuy “thơ mới” chiếm ưu thế tuyệt đối nhưng ta thấy “từ ấy” xuất hiện nổi bật trong tập thơ, bài thơ “việt bắc” là đỉnh cao của cuộc tìm về cội nguồn văn học và thơ ca dân tộc. . “Viet bac” là bản anh hùng ca đẹp đẽ về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc chống thực dân Pháp xâm lược. bài thơ ra đời đã đi vào lòng người bằng tiếng nói nghĩa tình thủy chung như ca dao, diễn tả sâu sắc tình cảm của người con rời “thủ đô kháng chiến” và chứa chan bao nỗi niềm thương nhớ. trong tâm trạng người ở, kẻ đi, bóng núi rừng, tiếng Việt Bắc Bộ còn vẹn nguyên trong kí ức với bao hình ảnh giản dị mà xúc động. Để đến hôm nay, những câu hát vẫn lay động lòng người bằng những sắc màu, âm hưởng tươi mát của hơi thở núi rừng, hơi ấm của người tình lan tỏa:

“ta trở về, ta nhớ ngươi trở về, ta nhớ hoa cùng ngươi. Rừng xanh hoa đỏ chuối rực, đèo cao êm đềm dao thắt lưng, ngày xuân . ” , mơ nở trắng rừng nhớ người đan nón chuốt từng sợi vàng, nhớ em gái hái măng một mình.

đọc “viet bac” ta thấy sự lựa chọn của tác giả đối với thể thơ lục bát, cách đối đáp bằng cặp đại từ nhân xưng “i – ta” là rất phù hợp và hiệu quả. Chắc hẳn nhiều bạn đọc thắc mắc trong các câu ca dao, tục ngữ có nhiều cặp đại từ nhân xưng được sử dụng phổ biến như: “he-she”, “brother”, “ta-she”, “my-ta”, vậy tại sao lại thành phần. để chọn cho bài thơ cặp đôi “yo-yo”. ở đây dường như nhà thơ đã ẩn ý. Tôi là tôi và tôi cũng có thể là tôi. cặp đại từ nhân xưng này có khả năng bao hàm tất cả các cặp còn lại. “Me-ta” có thể hiểu là anh em, mẹ con, hai con người yêu nhau, hay quan trọng hơn là mối quan hệ trừu tượng giữa con người với núi rừng Việt Bắc. chỉ là một vài đại từ nhân xưng mà có thể chỉ nhiều khía cạnh tình cảm khác nhau. yếu tố hiệu quả là người biết vận dụng thơ ca truyền thống một cách tinh tế và khéo léo đến mức thán phục.

cảm hứng chính trị xuyên suốt một đời thơ hay. với cảm nhận rằng cuộc đời của thi nhân “viet bac” là kết tinh của những tình cảm riêng – chung. sự hòa hợp tự nhiên của hai tình cảm: chủ nghĩa dân tộc và cách mạng. tiếng nói của nhân vật trữ tình nhập vai cũng là tâm tư, tình cảm của nhà thơ, khó có thể tách rời chủ đề và nhân vật. ở đó, cái tôi đã gắn liền với phẩm chất và tình cảm dân tộc, tiếng nói riêng “me-ta” đã nói lên tiếng lòng của nhân dân và của những người con cách mạng. tự sự trữ tình chính trị như những lời thì thầm với lòng dân để thuyết phục lòng dân. nỗi nhớ là cảm xúc chủ đạo của bài thơ, gắn với “ta – ta, ta – ta”, đó là cung bậc tình cảm thiết tha, là miền thương nhớ không nguôi về người đã khuất. nỗi nhớ ở đây là màu gốc của những bài ca dao, nó là sự tiếp nối, nó là khía cạnh tinh tế trong mối quan hệ khăng khít: hoa – người. quê hương thể hiện ở vẻ đẹp cụ thể: vẻ đẹp tinh túy của thiên nhiên (hoa lá) hòa quyện với vẻ đẹp sức sống của con người. Mỗi hình ảnh của “Hoa với người” dường như mang đến một ấn tượng khác nhau về vẻ đẹp của núi rừng Việt Nam. sự liên tục, đan xen của màu sắc tạo nên mạch cảm xúc của bài thơ, nỗi nhớ qua từng câu thơ càng trở nên da diết, da diết và đau xót. nhà thơ dường như hướng toàn bộ tâm tư, ngòi bút của mình cho những con người nơi đây với những phẩm chất bình dị nhưng cao cả.

Yếu tố đã vận dụng thành công đặc điểm tái hiện không gian vô tận của chất thơ gói gọn bốn mùa xuân-hạ-thu-đông bằng những màu sắc hài hoà và đẹp đẽ nhất. mỗi hình ảnh bao gồm hai mảng: một mảng xa và một mảng gần. mỗi bức tranh đều có sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người, sự lưu luyến trong nỗi nhớ hoa và người của nhà thơ:

“rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi, bước cao trong nắng có ánh dao thắt lưng”

Điểm nổi bật của hình ảnh núi rừng ở đây là màu đỏ tươi của hoa chuối, khiến những ngọn núi vốn đã xanh lại càng xanh hơn. chấm mực vẽ nên một màu đỏ giữa không gian xanh bao la, một không gian có sức sống mãnh liệt.

mùa đông đến trong bài thơ của ông cũng lan tỏa cái nóng của mùa hạ, không còn cảm giác lạnh nữa, bởi sắc đỏ của hoa chuối như bừng lên từ màu xanh của rừng. cùng với vẻ đẹp của hoa là vẻ đẹp khỏe khoắn của con người. “Mặt trời với con dao trong thắt lưng của mình” là hình ảnh của người dân miền núi. cách đoán không phải ngẫu nhiên mà chọn con dao đi rừng – vật bất ly thân của dân leo núi – một nét đặc trưng của đời sống miền Bắc Việt Nam. con người nổi bật giữa không gian của đèo cao, lại càng nổi bật dưới ánh nắng, trở thành điểm sáng giữa khung cảnh mùa đông với vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng.

“Ngày xuân rừng nở trắng xóa, nhớ người đan nón, chuốt từng sợi”

không gian mùa xuân rực rỡ sắc hoa mai. Sức sống mùa xuân lan tỏa khắp núi rừng Việt Nam. Giữa phông nền trắng muốt, nổi bật lên bông hoa mận “người ngả nón”. nỗi nhớ ở đây cụ thể đến từng chi tiết “sửa từng sợi chỉ”. đối với tôi dường như có bao nhiêu sợi gigang cũng nhiều như sợi ký ức. nỗi nhớ cứ nối tiếp, đan xen và day dứt suốt bốn mùa trong năm. trong đoạn tả cảnh không có một chút âm vang nào của rừng mà vẻ đẹp của mùa xuân sống mãi nhờ hoạt động của con người. sợi chỉ của ký ức, sợi chỉ đan dày trong tâm trí, là vẻ đẹp tự nhiên trong công việc hàng ngày.

“tiếng ve kêu rừng đổ vàng, nhớ người chị hái măng một mình”

Không gian của nỗi nhớ dường như hiện lên rõ nét và mãnh liệt nhất trong hình ảnh này: nỗi nhớ mùa hạ. và còn lưu giữ lại hình ảnh “chị hái măng” ngọt ngào, thân thương nhất. bài thơ tả cảnh giàu sức biểu cảm, tiếng ve kêu sắc vàng tràn ngập không gian, không gian như bừng sáng hơn khi sắc vàng rơi xuống. Ấn tượng về một màu vàng đẹp như một bức tranh hiện thực đã lay động lòng người với tiếng ve kêu mùa hè, như gọi cả đất trời đến phủ kín cả khu rừng.

“Rừng thu trăng soi bóng bình yên, nhớ ai câu hát ân tình thủy chung”

không gian chuyển về đêm như hoàn thành bức tranh núi rừng Việt Nam tuyệt đẹp. đêm thu và ánh trăng dịu nhẹ trải khắp màu xanh của núi rừng. vẻ đẹp của rừng cây dưới ánh trăng gợi sự kì ảo, cảnh vật gợi hồn thơ. nỗi nhớ mênh mang như ánh trăng sáng trở thành “khúc ca thủy chung”. nhớ bất kỳ đối tượng cụ thể nào. chúng tôi nghĩ về bài hát nổi tiếng:

“nhớ ai đến rồi đi, nhớ ai, nhớ ai, giờ nhớ ai”

tình người trong câu thơ gợi lên những cảm xúc đồng điệu giữa người ở và người đi. “tình chung thủy” đọng lại trong nỗi nhớ khôn nguôi. đoạn thơ gợi tả nỗi nhớ gắn với hình ảnh núi rừng, cảnh vật bốn mùa với những gam màu khác nhau tạo nên cảnh sắc trữ tình hấp dẫn. thời gian được miêu tả tuần tự nhưng không làm phai nhạt nỗi nhớ mà thời gian trôi càng làm cho nỗi nhớ da diết, sâu lắng hơn. Mỗi mùa đến đều có một không gian riêng và khi qua đi để lại trong tâm hồn một khoảnh khắc đẹp, đáng nhớ, đó là lúc nhà thơ gặp không gian, cảnh vật. đó là tình yêu đích thực, là sự rung động chân thành của trái tim nhà thơ. đó cũng là tấm lòng của những người con kháng chiến sâu nặng với “thủ đô kháng chiến”.

4. nhận xét về hình ảnh tứ bình trong bài Tiếng Việt mẫu 4:

“viet bac” là một trong những tập thơ hay nhất của đời thơ. Linh hồn của tập thơ này là bài thơ cùng tên “viet bac”. Bao trùm cả bài thơ là nỗi nhớ xưa của người lính cụ Hồ với những người áo dài, với đồng bào miền xuôi, với đồng bào vùng cao. bài thơ bình luận là tiếng lòng của chàng trai cô gái, khẳng định tình cảm, kỉ niệm, ấn tượng không bao giờ phai mờ dù phải rời xa quê hương đất nước:

“khi trở về mình nhớ gì, nhớ hoa và người, rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi, đèo cao, nắng vàng thắt lưng, ngày xuân, mơ nở trắng rừng nhớ người đan nón đan từng sợi, khổng tước gọi rừng đổ vàng, nhớ em gái tôi hái măng một mình, rừng thu trắng soi bóng hòa bình, nhớ ai thủy chung son sắt. bài hát là. “

Đoạn trích bình luận bao gồm mười câu thơ chia thành năm cặp lục bát. cặp thứ nhất là những từ đưa đẩy nhưng không che giấu được tình cảm sâu lắng. ở đây chàng trai hỏi cô gái:

“Khi tôi quay lại, tôi nhớ bạn”

nhưng khi cô gái chưa kịp đáp lại, chàng trai đã xác nhận tình cảm của mình:

“Tôi sẽ quay lại, tôi nhớ những bông hoa với bạn”

Ý tứ hàm ẩn của người tới đây là: Không biết có nhớ tới chính mình hay không, nhưng cho dù không nhớ tới chính mình, vẫn là nhớ tới chính mình. nội dung chính của đoạn trích bình giảng tập trung vào tám câu thơ còn lại. tám câu thơ là bốn cặp lục bát, mỗi cặp là một hình ảnh thiên nhiên tương ứng với một mùa nào đó trên núi rừng Việt Bắc. bốn hình ảnh kết hợp thành một bộ tứ hoàn chỉnh.

có lẽ trong bộ tranh tứ bình này, việt bắc xuất hiện đầu tiên là hình ảnh mùa đông. màu chính của hình ảnh này là màu xanh lam:

“rừng xanh với hoa chuối đỏ tươi”

đọc đoạn thơ này, chúng ta nhận thấy nghệ thuật quen thuộc trong thơ cổ điển được sử dụng khá nhuần nhuyễn bởi yếu tố: nghệ thuật chấm câu. yếu tố bên phải gợi nhiều hơn tả, nó không gợi tả rừng xanh như thế nào mà chỉ gợi hai chữ “rừng xanh”. chúng ta có thể hình dung những cánh rừng già với một màu xanh thẫm, bình lặng. trên nền xanh thẫm và trầm tư ấy, điểm xuyết thêm những bông hoa chuối dại. màu đỏ của nó chiếu sáng toàn bộ khung cảnh. những bông hoa chuối rừng như ngọn đuốc cháy. màu đỏ của hoa chuối trong bài thơ này cũng tượng trưng cho màu đỏ của lí tưởng cách mạng.

Nổi bật trong bức ảnh này là người Việt Nam đang ở trên đỉnh đèo cao, ánh nắng chiếu vào lưỡi kiếm làm cho khung cảnh càng thêm sinh động:

“Đèo cao dưới nắng với con dao trong thắt lưng”

Hình ảnh những người Việt Bắc trên đỉnh cầu vượt càng làm toát lên phẩm chất của họ. họ là những con người tự tin, hào hùng làm bá chủ thiên nhiên, thống lĩnh núi rừng. hơn nữa, hình ảnh những con người trên đỉnh đèo cao trong câu ca dao này chính là những người lính cụ Hồ năm xưa đã hơn một lần đi vào thơ ca.

Trong bộ tranh tứ bình, màu sắc của các yếu tố được sử dụng rất linh hoạt: từ màu xanh thẫm của rừng già ngày đông chuyển sang màu trắng tinh khôi của hoa mai khi xuân về. :

“vào mùa xuân, khu rừng nở hoa trắng xóa”

giờ đây, trước mắt chúng tôi là những cánh rừng việt bắc hiện ra với màu trắng tinh khôi của hoa mơ. gợi lên sự trang nghiêm, linh thiêng nhưng không kém phần bình dị, gần gũi. Trong hình ảnh Việt Bắc những ngày xuân ta không chỉ thấy màu trắng của rừng mai mà còn thấy màu trắng của những chiếc nón lá, màu trắng của đôi bờ sông. Người Việt Bắc tái hiện trong hình ảnh này qua nỗi nhớ của người đi về. đó là những người lao động:

“nhớ người đan nón đánh bóng từng sợi”

Hai chữ “vừa sức” đã nói lên phẩm chất của con người Việt Nam: cần cù, tài cao, chịu khó.

Có lẽ hình ảnh đẹp nhất trong bộ tranh của bộ tứ này là cảnh sắc với mùa hè bởi ở đây không chỉ có màu sắc của núi rừng Việt Bắc mà còn có cả âm thanh của mùa hè. là tiếng ve sầu:

“tiếng ve kêu vào rừng đổ vàng”

câu thơ chỉ có sáu âm tiết nhưng chứa đựng hàng loạt chuyển động liên hoàn: tiếng ve kêu hè sang, hè về nhuộm vàng rừng. nhưng dường như tiếng ve đã nhuộm vàng cả khu rừng hổ phách. tức là âm thanh đã trở thành màu sắc. những ngày cuối xuân, cả khu rừng hổ phách vẫn còn non và mộng mơ như vậy, nhưng chỉ cần vài tiếng đồng hồ những ngày đầu hè, cả khu rừng hổ phách đã ngả sang màu vàng. do tốc độ nhanh như vậy nên việc sử dụng từ “dump” là hoàn toàn chính xác. chỉ có thể hiện ra từ “đổ” vào lúc cả khu rừng hổ phách bỗng rực lên một màu vàng óng. từ “đổ” đã đạt đến độ chính xác của văn chương vì chúng là những từ miêu tả đúng tình huống, đúng cảnh, đúng người. xuất hiện trong bức tranh đó, người Việt Bắc lại xuất hiện tại nơi làm việc:

“Tôi nhớ chị tôi tự hái măng”

Hình ảnh người chị trong đoạn thơ này hiện lên trong nỗi nhớ của người về, gói ghém trong ánh mắt thương cảm của nhân vật trữ tình. hai chữ “một mình” đã khắc họa nên hình ảnh người lao động Việt Nam bình tĩnh, giàu đức hi sinh, kiên trì, nhẫn nại. ở cuối bài thơ tứ tuyệt, vầng trăng hòa bình hiện ra:

“trăng rừng mùa thu tỏa sáng hòa bình”

nếu ba hình ảnh trước vẽ cảnh viet bac vào ban ngày, thì ở đây lại xuất hiện cảnh viet bac trong bóng tối. ket qua xo so viet bac đã xuất hiện phong phú và đa dạng hơn. Ta không chỉ thấy cảnh vật hiện ra trước ánh ban ngày với màu vàng của nắng, màu vàng của rừng hổ phách, màu vàng của măng, màu trắng của hoa mai, của nón và màu đỏ tươi của hoa chuối rừng,… cảnh sắc thiên nhiên Việt Nam vẫn hiện ra dưới ánh trăng sáng lung linh, huyền ảo. hình ảnh này xuất hiện cùng với bài hát:

“Nhớ ai câu hát ân tình thủy chung”

Nghe tiếng hát của người Việt Bắc ta toát lên cái chất mới của họ. đó là những người suốt đời trung thành với đảng, với cách mạng.

Đọc lại đoạn trích bình luận, chúng ta thấy rằng cặp đại từ nhất quán được sử dụng bởi thành phần là “ta” và “me”. tuy nhiên, ở câu thơ cuối, chúng ta tìm thấy những đại từ tầm thường “ai” và “nhớ ai”. cuối cùng, “ai” chỉ là tôi trong trái tim chúng ta.

xuất hiện trong hoài niệm của con người về thiên nhiên bốn mùa và con người Việt Nam với bốn thế khác nhau. tình cảm cách mạng đã hòa quyện với tình yêu lứa đôi. đây là một vẻ đẹp, một thành công của yếu tố trong bài thơ này.

5. nhận xét về hình ảnh bộ tứ trong bài học việt bac mẫu 5:

“viet bac” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ của to huu. Được biết đến như một tác phẩm văn thơ kháng chiến xuất sắc, Việt Bắc có chỗ đứng vững chắc trong lòng người đọc.

Tác phẩm ra đời vào tháng 10/1954, do Trung ương Đảng rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội sau chiến thắng Điện Biên Phủ. bài thơ là tiếng lòng của những người ra đi và những người ở lại trong giờ phút tiễn biệt đầy hoài niệm, nhớ nhung về người đã khuất của viet bac. tưởng nhớ những người đã khuất, phong cảnh thiên nhiên Việt Bắc đẹp như một bức tranh tứ bình.

“khi trở về mình nhớ gì, nhớ hoa và người, rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi, đèo cao, nắng vàng thắt lưng. Ngày xuân, mơ nở, rừng nở trắng xóa nhớ người đan nón đan từng sợi, khổng tước gọi rừng đổ vàng, nhắc bạn gái hái măng một mình trong rừng thu, trăng soi trong bình yên nhớ ai. tình yêu chung thủy là. “

Hình ảnh của tứ bình được mô tả qua con mắt của những người đã khuất. Nó được tái hiện bởi trí nhớ của tác giả của viet bac. hình ảnh nhiều màu sắc làm cho bài thơ thêm sinh động. phần mở đầu là một lời khẳng định lòng ta tuy ra đi nhưng vẫn nhớ “hoa với người”. hình ảnh bốn chiếc bình tượng trưng cho bốn mùa xuân – hạ – thu – đông. vào mùa đông, giữa màu xanh bạt ngàn của núi rừng, nổi bật lên “bông hoa chuối đỏ tươi”. Những bông hoa chuối đỏ tươi nổi bật trên nền rừng xanh đỏ, xanh lá, xanh đỏ tạo nên màu sắc sống động cho câu thơ. màu đỏ của hoa chuối như những đốm lửa làm tan đi đêm đông lạnh giá, sưởi ấm cả không gian xung quanh. mùa đông là thế, đến mùa xuân thì thiên nhiên việt bắc bừng lên sắc màu tinh khôi của “hoa mơ trắng trong rừng”. Phong cảnh đẹp! Như chờ xuân về, mơ nở cùng lúc nhuộm trắng cả khu rừng khiến ai nhìn thấy cũng phải xao xuyến. mùa hè hòa với cái nắng gay gắt, màu vàng của hổ phách rừng hòa với tiếng ve kêu leng keng: “ve kêu rừng hổ phách đổ vàng”. nét nghệ thuật của đoạn thơ này là sử dụng điệp từ “đổ”. “pour” có nghĩa là đổ xô xuống và tràn ra một cách nhanh chóng. từ “đổ” này đã làm tăng sức gợi cho câu thơ. nó khiến cả không gian trước mắt người đọc trở nên mát mẻ, giờ chỉ còn một màu, đó là màu vàng tươi. vào mùa thu, cảnh vật dịu lại và trở nên huyền ảo. ánh trăng êm dịu và khúc tình ca khiến câu thơ như lắng lại. nhưng đặc biệt hơn, ánh trăng ấy không phải là ánh trăng bình thường mà là ánh trăng của những ngày đầu độc lập. ánh trăng ấy là vầng trăng của hòa bình và độc lập. Hình ảnh thiên nhiên với bốn mùa hiện lên sinh động trước mắt người đọc. nhưng phong cảnh sẽ không hoàn hảo nếu thiếu hình ảnh của con người. trong hình tượng tứ linh luôn xuất hiện bóng dáng con người. chủ sở hữu đã sử dụng hình ảnh liên quan đến công việc của họ để ghi nhớ. những con người trong thơ của hủ tíu đều là những người lao động ra đồng với “con dao thắt lưng”, người chăm chỉ “chuốt từng sợi sông”, hay “cô gái đi hái măng một mình”. tất cả những nét đẹp của con người Việt Bắc đã được thể hiện một cách chân thực qua bài thơ Hủ tiếu. phải là một người rất yêu và dành nhiều tình cảm cho đại gia viet bac mới có thể vẽ nên một bức tranh hoàn mỹ như vậy. hình ảnh đó dường như tạo thêm nét đặc sắc cho bài thơ.

khép lại bức tranh tứ bình, trong lòng người đọc vẫn còn nhiều nỗi niềm. bài thơ ông đã để lại trong lòng người đọc một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, tươi đẹp, đầy màu sắc và tràn đầy sức sống. Không chỉ vậy, bài thơ còn thể hiện những con người lao động lớn lao của Việt Bắc. Tóm lại, đoạn thơ tượng hình của Quatrain là một trong những đoạn hay nhất trong bài thơ. nó mang đậm tính nghệ thuật và tạo điểm nhấn cho tác phẩm.

———————— hết —————————

Bên cạnh nội dung đã học, các em cần chuẩn bị cho bài học tiếp theo với phần Phân tích 12 câu trong đoạn 3 bài thơ Tiếng Việt để nắm vững những kiến ​​thức ngữ văn 12 của mình.

trong chương trình ngữ văn 12 phần phân tích bài thơ Thị trấn này là cuộc sống là một nội dung quan trọng các em cần lưu ý và chuẩn bị trước.

khám phá nội dung chi tiết Soạn bài Người lái đò sông đà để học tốt Ngữ Văn 12 hơn.

được đăng bởi: thpt luna sóc

danh mục: giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.